Lý Đại Nguyên.

Cuộc biểu tình khởi sự ôn hòa tại Lhasa ngày 10/03/08, đánh dấu kỷ niệm cuộc khởi nghĩa bất thành của người Tây Tạng chống lại chế độ cai trị của Trungcộng xâm lược năm 1959, do khoảng 300 tăng sĩ phát xuất từ tu viện Drepung xếp hàng một, trang nghiêm tiến vào thủ phủ Lhasa, rồi bị công an, quân đội Trungcộng trấn áp. Nhưng chỉ 4 ngày sau, tình trạng bạo động bỗng nổ ra, và các cuộc đàn áp đẫm máu tiếp diễn. Trungcộng đổ lỗi cho nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng là Đức Đạt Lai Lạt Ma đã dàn dựng ra cuộc bạo động chống lại họ. Phát ngôn viên bộ Công An Trung Cộng, Ngô Hòa Bình nói rằng: “Kế hoạch sắp tới của các lực lượng đấu trang đòi độc lập cho Tây Tạng là tổ chức những đội tự sát để mở các cuộc tấn công bạo động”. Trung Cộng không quên ngụy tạo ra những bằng chứng giả, nhằm làm cho hình ảnh hòa bình, từ tâm, nhân ái. liễu đạo của Đức Đạt Lai Lạt Ma và chủ trương đòi hỏi quyền tự trị rộng rãi cho Tây Tạng đang đuợc toàn thể thế giới kính trọng, khâm phục bị tiêu tan.

Dư luận thế giới khâm phục, không chỉ vì đức độ của Đức Đạt Lai Lạt Ma, mà còn do tầm nhìn quán suốt của Ngài về thực tại của thế nước Tây Tạng, trước sức bành trướng khủng khiếp của Trungcộng. Với chủ trương triệt để “Hán Hóa Tây Tạng”. Với 7 triệu người Tầu thực dụng, trùm phủ lên 6 triệu người Tây Tạng bị trị. Với một chế độ độc tài cộng sản, gian trá, khát máu, tàn bạo bậc nhất toàn cầu. Nếu Ngài cứ đòi độc lập, và dùng phương pháp đấu tranh bạo lực, như một số lãnh tụ quốc gia lưu vong bình thường khác, trong lúc các cường quốc đua nhau làm ăn với Trung Hoa thì lập tức Ngài bị bỏ rơi, dân tộc của Ngài lâm vào cảnh đấu tranh vô vọng, đi tới chỗ hoàn toàn bị tiêu diệt.

Chính vì vậy, mà Ngài đề cao tinh thần từ bi bất bạo động, và chỉ đòi hỏi cho Tây Tạng được tự trị rộng rãi, tránh nạn “diệt chủng văn hóa”. Ở điểm này khiến cho thế giới, nhất là các cường quốc dân chủ đều đã mặc nhiên nhìn nhận Ngài là một biểu tượng cho tinh thần hòa bình, tự do, nhân quyền chung của nhân loại. Các lãnh tụ chính trị quốc tế đã tiếp rước Ngài trọng thể, mặc cho Trungcộng cay cú phản đối. Bởi vậy, Trungcộng đã tìm mọi cách, mọi cơ hội để chống lại với cuộc vận động quốc tế về nhân quyền và tự trị của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Mà cách hữu hiệu nhất là làm mất chính danh, chính nghĩa của cuộc đấu tranh ôn hòa bất bạo động cho nền tự trị Tây Tạng trước dư luận quốc tế, biến thành cuộc tranh đấu bạo động đòi độc lập cho Tây Tạng, đó là điều Trungcộng dự mưu từ lâu. Đến đây thì có thể giải thích cho cuộc biểu tình ôn hòa của chư tăng ngày 10/03/08, bỗng thành cuộc bạo động, tàn phá, đẫm máu, để Trungcộng mau mắn mời báo chí, ngoại giao quốc tế đến Lhasa để đổ tội bạo hành cho các nhà sư ôn hòa và dân chúng Tây Tạng hiền lành xuống đường đòi nhân quyền và tự trị.

Theo nhà báo Gordon Thomas trên tờ Canada Free Press, ngày 21/03/08, đặt câu hỏi, để tự trả lời: “Vì sao cuộc tranh đấu cho nhân quyền và tự trị của các nhà sư Tây Tạng vốn yêu chuộng hòa bình bỗng nhiên có các cảnh bạo lực như đốt nhà, đốt xe, đập phá nhà cửa, hành hung người …? Thực ra đó là công an Trung Quốc mặc áo cà sa giả làm sư, cố ý bạo động để bêu xấu cuộc chiến vì tự do dân chủ của dân tộc Tây Tạng, những người bản tính rất hòa bình”.Trong bản tin đó có ghi lại một xác minh của GCHQ, tức là Sở Truyền Thông Chính Phủ Anh, nói là ���mạng theo dõi truyền thông điện tử của sở này từ vệ tinh lấy các sóng tín hiệu từ không gian đã xác nhận lời của Đức Đạt Lai Lạt Ma rằng, "chính nhân viên an ninh Trung Quốc đã giả trang làm sư để kích động bạo loạn và làm hàng trăm người Tây Tạng chết hay bị thương. Đây là quyết định của chính phủ Bắc Kinh muốn lấy cớ để dẹp một lần cho xong những bất mãn âm ỉ ở Tây Tạng, nơi đang thu hút sự chú ý của thế giới, khi sắp tới lễ hội Thế Vận 2008”. Song song với tin này thì một tấm ảnh được Ủy Ban Nhân Quyền Tây Tạng phổ biến cho thấy nhiều binh sĩ Trungcộng với đầu trọc, tay ôm áo cà sa màu nâu đỏ, có ghi là scan lại từ bìa của bản phúc trình của ủy ban này năm 2003, và viết rằng, vì các nhà sư không chịu tham gia đóng một cuốn phim, nên binh lính Trung Quốc nhận lệnh phải mặc áo sư để giả trang.

Việc giả mạo, gán tội, lừa dối dư luận là nghề của người cộng sản, họ không làm thế mới là lạ. Với người Tu Sỉ Phật Giáo Tây Tạng hiếu hòa thì Trungcộng biến thành hung ác trước mắt thế giới. Với người Tu Sĩ Hồi Giáo Tân Cương, vì luật Hồi Giáo vốn cấm ăn thịt heo, thì Trungcộng bắt giam bỏ đói các tu sĩ rồi bắt họ phải ăn cơm với thịt heo để quay thành phim phổ biến, làm cho họ phạm giới, hết được tín hữu nhận là tu sĩ nữa. Đồng thời quy chụp cho cuộc đấu tranh của người Uighur giành độc lập ở Tân Cương thuộc phe Hồi Giáo quá khích khủng bố, khiến thế giới bỏ rơi, để thằng tay tiêu diệt. Cộng sản vốn thâm độc, mà cộng sản Tầu càng thâm độc hơn. Nhưng với biến cố Tây Tạng hiện nay thì Trungcộng không còn mập mờ đánh lận con đen được nữa. Nên áp lực thế giới mỗi ngày một mạnh lên tổ chức Thế Vận Hội Bắc Kinh, khiến Trungcộng dù vẫn hung hăng lên án Đức Đại Lai Lạt Ma và đàn áp người Tạy Tạng, nhưng Ôn Gia Bảo thủ tướng Trungcộng hôm 30/03/08, đã phải đánh tiếng: “Bắc Kinh sẽ nối lại cuộc đối thoại với Đức Đạt Lai Lạt Ma, nếu Ngài từ bỏ lời kêu gọi độc lập cho Tây Tạng, và thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Đài Loan và Tây Tạng”. Thực ra thì Đức Đạt Lai Lạt Ma đâu có đòi Tây Tạng Độc Lập, còn tân tổng thống Đài Loan, Mã Anh Cửu của Quốc Dân Đảng cũng chẳng chủ trương 2 nước Trung Hoa độc lập. Đúng là giết không nổi tha làm phước.

Nhưng như vậy, không có nghĩa là Trungcộng đã dứt bỏ tham vọng bành trướng ra các nước chung quanh, hấp dẫn nhất vẫn là những nước còn nằm dưới chế độ độc tài, chống lại dân chúng của chính mình, như Miến Điện, Campuchia, Lào và Việtnam. Ở Miến Điện thì hầu như cả về tài nguyên, kinh tế, chính tri, quân sự đều đã nằm trong tay Trungcộng. Campuchia thì Trungcộng dùng viện trợ để bành trướng thế lực. Riêng Lào thì Trungcộng vừa viện trợ kiến thiết, vừa tràn người vào xứ cộng sản độc tài nhỏ bé, mà dân chúng hiền hòa theo Đạo Phật này, để biến thành Tây Tạng Thứ Hai, vì dân số Lào cũng chỉ có 6 triệu, mà dân Tầu có mặt ở đây cũng đã gần số triệu. Nếu Lào hoàn toàn lọt vào tay Trung Cộng thì Việtnam lâm nguy. Vì Việtnam vẫn do cộng đảng lãnh đạo, vẫn nhận chịu số phận làm đàn em của Tầucộng, vẫn nhận lệnh quan thầy để tiêu diệt tinh thần Dân Tộc nơi tuổi trẻ Việtnam, chưa thực sự Dân Chủ Hóa chế độ, thì dù Mỹ và các cường quốc Dân Chủ có đổ vốn đầu tư vào Việtnam nhiều bao nhiêu, cũng không cứu Việtnam khỏi số phận của Tây Tạng ngày mai. Đây là một vấn nạn được đặt ra cho Quốc Dân Việt Nam, cho Hoa Kỳ và cả Thế Giới Dân Chủ.

Little Saigon ngày 01/04/2008.

Lý Đại Nguyên.

Từ trước tới nay, Việt cộng đều lớn tiếng tuyên dương lý tưởng đấu tranh giành độc lập cho dân tộc Việtnam, ngay khi họ hiện nguyên hình là cộng sản áp dụng chế độc độc tài toàn trị ở Miền Bắc, hoàn toàn đặt dưới sự lãnh đạo của Quốc Tế Cộng Sản, đứng đầu là Liên Xô và Trungcộng, để thực hiện cuộc chiến tranh xâm lược Miền Nam, thì họ vẫn dùng chiêu bài độc lập dân tộc để sách động dân chúng Miền Nam nổi lên chống chế độ tự do của Việtnam Cộnghòa, một đồng minh với Hoakỳ và Thế Giới Dân Chủ. Thậm chí đến lúc chiếm trọn Việtnam, công khai thực hiện chế độ cộng sản, mà họ gọi là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa chết tiệt hiện nay, họ vẫn không biết ngượng, cứ dùng chiêu bài “độc lập dân tộc” để khoe khoang thành tích, cố tình lấp liếm đi những sai lầm và tội ác đã gây ra cho quốc dân và tinh thần độc lập của dân tộc, qua việc hiến đất, dâng biển, nhường đảo cho Trungcộng. Nhưng đến lúc phải chứng tỏ lý tưởng độc lập của mình ra trước công luận thế giới, bằng việc dùng lá phiếu ở Hội Đồng Bảo An LHQ để chấp nhận cho nước Kosovo Độc Lập, thì lại theo Nga, Tầu bỏ phiếu chống.

Kosovo vốn là một tỉnh của Serbia, được đặt dưới sự kiểm soát của Liên Hiệp Quốc, từ khi NATO đẩy lui các lực lượng quân sự của người Serbia ra khỏi đây năm 1999, trong một cuộc chiến thanh lọc chủng tộc và tôn giáo, do chính quyền Belgrade thời đó thực hiện. Kosovo có 2 triệu dân. Sắc tộc Albania chiếm đa số. Người Serbia có 10%. Ngày 17/02/2008, Quốc Hội Kosovo bỏ phiếu tán thành việc tách lãnh thổ này ra khỏi chính quyền Belgrade của Serbia để thành một Quốc Gia Độc Lập. Các nước Anh, Pháp, Đức, Ý và Hoakỳ mau chóng nhìn nhận Kosovo độc lập. Riêng Nga thì kịch liệt phản đối. Còn Trungcộng không tán thành Kosovo độc lập, vì lo ngại sẽ trở thành tiền lệ cho Đài Loan tách ra khỏi Hoa Lục và Đức Đạt Lai Lạt Ma đòi cho Tây Tạng được Tự Trị. Điều này cho thấy, dù chính Hoakỳ và các nước Âu Châu đã tích cực vận động để cho Việtnam được trở thành hội viên không thường trực của Hội Đồng Bảo An LHQ. Đến khi phải dùng lá phiếu để bày tỏ thái độ của mình về vấn đề Độc Lập cho các Dân Tộc và Nhân Quyền của Người Dân ở mọi quốc gia, thì nhà cầm quyền độc tài Việtcộng vẫn cứ đứng chung giới tuyến với các nước độc tài, bành trướng là Nga và Tầu.

Trong khi Trung cộng đang làm mọi cách để tô điểm cho kỳ Thế Vận Hội được tổ chức vào ngày 08/08/08 tại Bắc Kinh, nào là chính Hồ Cẩm Đào, chủ tịch Trungcộng, trong buổi gặp đoàn đại biểu Quốc Hội của người Tây Tạng đã yêu cầu họ tìm cách nâng cao mức sống, cũng như xây đắp hòa bình và ổn định khu vực này. Nhưng mặt khác giới lãnh đạo Trungcộng vẫn không chấp nhận đề nghị hợp tình của Đức Đạt Lai Lạt Ma là phải để cho Tây Tạng được rộng quyền tự trị, nhằm duy trì văn hóa và tôn giáo cá biệt của dân tộc Tây Tạng. Trái lại còn lên án các chính phủ của những nước tiếp xúc với Ngài Đạt Lai Lạt Ma nữa. Chính vì vậy, mà người dân Tây Tạng trong, ngoài nước không còn kiên nhẫn chờ đợi thêm. Nhân kỷ niệm 49 năm ngày 10 tháng 03 năm 1959. Dân chúng Tây Tạng nổi lên chống lại ách thống trị cùa Trungcộng bất thành, khiến Đức Đạt Lai Lạt Ma bị lưu vong bên Ấn Độ. Khởi đầu bằng cuộc đi bộ cùa 100 người Tây Tạng lưu vong từ Ấn Độ quyết vượt biên giới vào Tây Tạng, tuy bị cảnh sát Ấn Độ chận lại, nhưng họ tuyên bố sẽ nhất quyết tìm mọi cách đến Lhasa, thủ đô của Tây Tạng trong vòng 6 tháng, trước khi khai diễn Thế Vận Hội Bắc Kinh. Cuộc tuần hành được gọi là “Trường Chinh” này nhằm kêu gọi sự chú ý đến cuộc đấu tranh đòi tự do cho quê hương Tây Tạng thoát khỏi tình trạng của sự chiếm đóng bất hợp pháp của Trungcộng kể từ năm 1951. Và rồi Trungcộng tự tuyên bố đây là phần lãnh thổ bất khả phân của họ.

Tuy người bên ngoài chưa lọt được vào nội địa, mà cuộc xuống đường của dân chúng đã đồng loạt nổ ra tại Lhasa. Sớm ngày thứ Hai, 10/03/08, khoảng 300 nhà sư từ tu viện Drepung nằm ngoài Lhasa, xếp hàng một đi theo đường dài 10 cây số tiến vào Lhasa. Chỉ ít phút sau đoàn tu sĩ rời tu viện thì cảnh sát, công an, quân đội Trungcộng xuất hiện khắp nơi. Súng nổ, người chết, lửa cháy, bạo động, hỗn loạn. Ngày 16/03/08, nhà cầm quyền Trungcộng loan báo tái lập trật tự và ra lệnh cho các người biểu tình còn trốn thoát phải ra đầu hàng. Nhưng cuộc chống đối Trungcộng từ Tây Tạng đã lan sang quận Aba thuộc tỉnh Tứ Xuyên Trunghoa. Và hầu hết ở các nước có người Tây Tạng lưu vong, đều thực hiện các cuộc biểu tình trước các đại sứ quán Trungcộng. Điều đặc biệt là giới trẻ của Tây Tạng trong dịp này, họ đã đi quá xa với đòi hỏi Tây Tạng Tự Trị của Đức Đạt Lai Lạt Ma, đó là đòi Độc Lập cho Tây Tạng. Trước nhu cầu Độc Lập của người Tây Tạng và cảnh bạo động vừa xẩy ra, khiến Đức Đạt Lại Lạt Ma, người chủ trương sử dụng bất bạo động là phương tiện đạt tới mục tiêu tự trị cho Tây Tạng, đã phải đưa ra lời tuyên bố: “Nếu mọi sự vượt ra ngoài tầm kiểm soát, thì chọn lựa duy nhất của Ngài là hoàn toàn từ nhiệm”. Đến đây thì giới lãnh đạo Trungcộng phải lựa chọn là gặp Ngài Đạt Lai Lạt Ma để thương thảo về nền Tự Trị của Tây Tạng, hay phải đương đầu với một cuộc đấu tranh quyết tử đòi Độc Lập của dân Tây Tạng.

Hiện nay, hình ảnh của cuộc tổ chức Thế Vận Bắc Kinh đã trở nên ảm đạm, nhiều tổ chúc nhân quyền thế giới, như Phóng Viên Không Biên Giới đã chính thức kêu gọi tẩy chay lễ khai mạc Thế Vận Hội Bắc Kinh. Giới Trí Thức Âu Châu củng kêu gọi các nhà lãnh đạo chính trị thế giới tẩy chay lễ khai mạc ấy, nếu tình trạng bạo động tại Tây Tạng vẫn tiếp diễn. Nhiều lực sĩ hàng đầu của quốc tế cũng tỏ ý tẩy chay không tham dự kỳ thế vận hắc ám lần này. Tại Hoa Thịnh Đốn, một quan chức Bộ Ngoại Giao đã nói với các nhà Lập Pháp rằng: Hoakỳ không đe dọa tẩy chay Thế Vận Hội. Nhưng đây là cơ hội để Bắc Kinh chứng tỏ những tiến bộ về nhân quyền và các vấn đề khác của Trunghoa. Đến như ông Mã Anh Cửu ứng viên tổng thống của Quốc Dân Đảng, vốn là đảng muốn duy trì quan hệ giao thương hài hòa với nhà cầm quyền Bắc Kinh, cũng lên tiếng: Nếu vấn đề Tây Tạng ngày một xấu đi, thì sau khi đắc cử tổng thống, ông sẽ không gửi vận động viên tham dự Thế Vận Bắc Kinh. Còn với ông Tạ Trường Đình của đảng Dân Tiến, nếu thắng chức tổng thống Đài Loan, ngày 22/03/08 này, thì đương nhiên Đài Loan sẽ tách khỏi Hoa Lục để thành Quốc Gia Độc Lập..

Nhân dịp này Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Viện Trưởng VHĐ, GHPGVNTN đã gửi thư tới đức Đạt Lai Lạt Ma, tỏ tình liên đới và hậu thuẫn đối với cuộc đấu tranh cho tự do của Dân Tộc Tây Tạng. Hầu như cả thế giới đều quan tâm tới tình hình Tây Tạng và cảm thông chia xẻ với cuộc đấu tranh thần thánh của Dân Tộc Tây Tạng chống lại cuộc xâm lăng, cuộc tiêu diệt văn hóa, cuộc đồng hóa dân tộc của bạo quyền Trungcộng, và đòi độc lập, thì Việtcộng chẳng những câm nín, mà không dám cho báo chí của họ viết một chữ nào về biến cố Tây Tạng. Rõ ràng là đảng và nhà cầm quyền Việtcộng đã quá sợ oai Trungcộng rồi. Thanh Niên, Sinh Viên, Học Sinh và Toàn Dân Việtnam cần phải tỏ thái độ với Trungcộng trong cuộc rước đuốc Thế Vận qua Saigòn ra Hoàng Sa, với thâm ý là buộc Việtcộng và cả chúng ta phải thừa nhận chủ quyền của chúng ở đây. Chúng ta hãy nhất tề cùng nói: KHÔNG! Bằng những hành động cụ thể quyết liệt chống đối cuộc rước đuốc ô nhục đó.

Little Saigon ngày 18/03/2008.

Lý Đại Nguyên.

Qũy Tiền Tệ Quốc Tế -IMF- chính thức lên tiếng cảnh báo giới hữu trách Việtcộng rằng: “Nền kinh tế đang tăng tưởng nhanh chóng của Việtnam đã lên cơn sốt.” Theo nhật báo Fiancial Times ở Anh, phó giam đốc bộ phận Châu Á Thái Bình Dưong của IMF, ông Shogo Ishii trong một bài viết trên trang nhà IMF rằng: “Ngày càng có dấu hiệu cho thấy kinh tế Việtnam đang lên cơn sốt, đe dọa tới sự tăng trưởng lâu bển và trong trung hạn.” Trong cuộc họp với giới chức thẩm quyền Hànội tuần trước, đại diện IMF, ông Benedict Bingham đề nghị áp dụng việc tăng gia lãi suất có kiểm soát, nhằm chận đà tăng tín dụng, vốn đã tăng khoảng 50% trong năm 2007, thay vi đề ra những chỉ tiêu định lượng. Đồng thời IMF kêu gọi nhà cầm quyền Hànội gia tăng những hạn chế đối với hoạt động vay tiền của các doanh nghiệp nhà nước, và giảm thiểu mức thâm hụt cán cân thương mại.

Khuyến nghị trên được đưa ra trong lúc Việtnam bị đối diện với nạn vật giá leo thang, phát sinh từ sự tăng vọt của giá nhiên liệu và thực phẩm trên thị trưởng thế giới và Việtnam. Tỷ lệ lạm phát trong tháng 2 vừa qua tại Việtnam đã lên tới mức 15.67%, cao nhất vùng Châu Á. Cán cân thương mãi ngày càng thâm hụt khủng khiếp, vì bao nhiêu lợi nhuận kiếm được nhờ ở thị trường của Mỹ và thế giới, không đủ bù vào việc nhập cảng hàng hóa của Trungcộng. Niềm tin vào “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” nơi lãnh đạo, cán bộ và dân chúng đang tan biến. Giới tư doanh và đâu tư ngoại quốc không còn tin vào thứ Thị Trường Chứng Khoán ăn sổi của Việtnam, do các công ty quốc doanh thao túng nữa. Đình công nổ ra hàng loạt. Ngày 5/3/08, 10 ngàn công nhân xí nghiệp sản xuất Nike ở gần Sảigòn, và khoảng 5 ngàn công nhân của công ty Nhậtbản ở Hảiphòng đã đình công đòi tăng lương để theo kịp với vật giá gia tăng. Dân chúng lâm vào cảnh túng quẫn, tạo mầm bất ổn xã hội. Khiến cho Việtcộng buộc phải hủy bỏ cuộc hội thảo về đầu tư thường niên lần thứ 3 của Euromoney Vietnam Investment Forum định bắt đầu vào Thứ Ba này. Sự hủy bỏ cuộc hội thảo quan trọng đó là dấu hiệu mới nhất cho thấy cơn lốc kinh tế đã làm rúng động đến nền tảng kinh tế của nhà nước Việtcộng.

Dù vậy, dù đã có khuyến nghị của các chuyên gia thượng thặng của IMF, đưa ra những biện pháp tháo gỡ khủng hoảng cho một nền kinh tế dựa trên nguyên tắc thị trường tự do. Nhưng nhóm lãnh đạo Hànội vẫn không sao tìếp thu nỗi, họ vẫn bám cứng vào nguyên tắc nhà nước trực tiếp can thiệp vào kinh tế thị trường qua một tổng công ty có tên là Đầu Tư Kinh Doanh Vốn Nhà Nước, gọi tắt là SCIC sẽ cùng với cơ quan chức năng nhà nước lên kế hoạch mua cổ phiếu trên thị trường. Thị trường chứng khoán lập ra, nhằm huy động vốn tiết kiệm của tư nhân và toàn dân làm thành vốn đầu tư để các công ty phát triển kinh tế, nay vì cứu các nhà đầu cơ chứng khoán, chính phủ phải đổ ngân sách quốc gia ra mua thứ cổ phiếu ế ẩm mất giá đó, trong lúc nển kinh tế đang trong tình trạng lạm phát phi mã, thì đúng là lũ mù quẳng tiền vào đống lửa. Nhưng thực tế thì chúng không mù, mà chỉ lưu manh, vì chúng chỉ nghĩ đến quyền lợi của chúng.

Đến đây thì các chuyên gia kinh tế thế giới đã buộc phải hiểu rằng, nhóm cầm đầu Việtcộng, miệng nói là làm kinh tế thị trường, nhưng bản chất của chế độ vẫn là chỉ là cộng sản, một thứ cộng sản gian manh chỉ thừa nhận cho đảng viên có quyển tư hữu, còn toàn dân vẫn phải sống trong quy chế công hữu, chỉ đảng viên mới có quyền nhân danh nhà nước để tham nhũng, nhân danh luật pháp để bỏ tù những người bất đồng chính kiến và đòi công lý. Bởi vậy nhà nước mới cho thành lập tổng công ty Đầu Tư Kinh Doanh Vốn Nhà Nuớc do Bộ Trưởng Tài Chánh là chủ tịch, nhằm cứu các công ty quốc doanh do bọn đảng viên đầu cơ chứng khoán. Đâu có giống như ở các nước Dân Chủ, thị trường nằm trong tay tư doanh, điều tiết thị trường do các ngân hàng trung ương của mỗi quốc gia đảm trách. Chính phủ không trực tiếp can thiệp vào thị trường, mà chỉ dùng thuế khóa làm đòn bẩy cho nền kinh tế, như giảm thuế cho tư bản để thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài. Trả bớt thuế lại cho dân để tăng tiêu thụ. Hiện nay để giải quyết khủng hoảng tín dụng toàn cầu. Ngân hàng Trung Ương một số nước, trong đó có Hoakỳ, Âu Châu, Thụy Sĩ, Canada đã loan báo những biện pháp khẩn cấp để đối phó với cuộc khủng hoảng đó. Quỹ Dự Trữ Liên Bang Mỹ đi đầu sẽ cung ứng 200 tỷ USD cho các định chế tài chánh trong vòng 28 ngày, thay vì giao tiền như hiện nay là chuyển ngân qua đêm. Nhờ đó mà một số thị trường gần đây đã tăng trở lại.

Xem vậy, nếu Việtnam còn do bọn Việtcộng cầm đầu, để bắt toàn dân và buộc thế giới phải chấp nhận cái nền kinh tế quái gở “Thị Trường Theo Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa”, và phải tuân thủ những thứ luật pháp lạc hậu bất minh, thì dù cho Hoakỳ và quốc tế có thiện chí tới mấy cũng không cứu nổi cuộc khủng hoảng kinh tế Việtnam hiện nay. Vì hầu như cả nhóm cầm đầu Việtcộng đều không chịu hiểu thế nào là nền kinh tế thị trường đúng nghĩa, họ vẫn bám cứng lấy phương pháp toàn trị. Đảng và chính phủ phải nắm vận mệnh toàn xã hội, đặt chỉ tiêu cho kinh tế, dùng các công ty quốc doanh để thao túng thị trường và độc quyền tham nhũng. Chính vì thế, mà từ Nguyễn Minh Triết tới Nguyễn Tấn Dũng khi được truyền thông quốc tế hỏi về trường hợp nhà nước bỏ tù những người Việtnam đấu tranh bất bạo động đòi tự do, dân chủ, nhân quyền thì đều được trả lời là nhà nước chỉ bỏ tù những kẻ phạm pháp. Và Việtnan có luật về tự do báo chí nhất thế giới. Có nghĩa là thứ luật pháp mà Việtcông đang áp dụng tại Việtnam là luật của Xã Hội Chủ Nghĩa, không nhằm bảo vệ cho người dân, mà chỉ nhằm bảo vệ cho quyền độc tôn của cộng đảng. Ai chống đảng, có ý kiến trái với đảng đều phạm pháp, bị kết án, bỏ tù.

Có nghĩa là luật báo chí ở Việtnam chỉ cho phép đảng viên được độc quyền làm báo và viết báo, nhưng vẫn phải xếp hàng đi một lề bên phải. Trong khi đó, nước bạn hàng lớn nhất của Việtnam hiện nay là Hoakỳ lại là một nước dân chủ hàng đầu thế giới, ở đây không có luật báo chí, mà Tu Chính Án Số 1 của Hoa kỳ còn cấm “Quốc Hội không được làm luật nào không tôn trọng sự hình thành của tôn giáo, hoặc cấm đoán sự tự do sinh hoạt của tôn giáo, hay giảm quyền tự do ngôn luận, hoặc báo chí, hay quyền tụ họp của người dân một cách ôn hòa, và kiến nghị chính phủ để điều chỉnh các than oán của dân chúng”. Nhưng không vì vậy mà xã hội loạn, vì tôn giáo, và báo chí đểu bị quyền tự do cá nhân của mỗi công dân giới hạn. Công dân có quyền nhờ toà án phán quyết khi bất cứ thế lực nào vi phạm vào quyền riêng tư của mình. Nhờ đó mà người dân tin vào chế độ. Kinh tế Thị Trường có tồn tại phát trỉển được hay không là nhờ vào chữ TÍN. Khi nền Kinh Tế Thị Trường theo Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa đã đánh mất chữ tín với quốc dân và quốc tế, tất đã đến lúc phải sụp đổ mau chóng thôi.

Little Saigon ngày 11/03/2008.

Lý Đại Nguyên

Tại Hànội, ngày 19/10/07, phóng viên Roger Mitton đã viết một bài bằng Anh ngữ đăng trên tờ báo điện tử The Straits Times - Thời Báo Eo Biển của Singapore – www.straitstimes.com với tựa đề: Đảng Cộng Sản Việt Nam tự đặt lại nhãn hiệu danh xưng? “Tên gọi “cộng sản” bây giờ bị xem như lỗi thời và tổn hại cho hình ảnh của đất nước”. Nếu nhóm cầm đầu Việtcộng ở Hànội mà biết nghĩ tới sự lỗi thời và tổn hại cho hình ảnh đất nước thì đã phải chủ động vất bỏ cái tên “cộng sản” đi ngay khi Liên Xô vừa sụp đổ, Quốc Tế Cộng Sản tan vỡ, đâu phải quay đầu thần phục kẻ thù truyền kiếp của dân tộc là Trungcộng, để rồi phải “hiến đất, dâng biển, nộp cá” cho chúng, mang tiếng Việtgian bán nước cho ngoại bang, ngàn đời lưu xú. Bọn Việtcộng hiện nay đã không thuộc bài học vỡ lòng, mà Hồ Chí Minh đã thực hiện khi cướp được chính quyền năm 1945 là phải giải tán đảng Cộng Sản Đông Dương, để núp dưới chiêu bài Dân Tộc Kháng Chiến mới tồn tại. Lúc đủ mạnh cũng chỉ dám lấy tên là đảng Lao Động Việt Nam. Mãi đến khi Việtcộng cướp trọn Miền Nam, Lê Duẩn vì hãnh tiến, ngu xuẩn đã đổi tên đảng là Cộng Sản Việt Nam, đổi luôn tên nước là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, khiến cho bọn đàn em bây giờ, khi cần hội nhập với thế giới Dân Chủ Văn Minh phải nêu ra vấn đề, tự đặt lại nhãn hiệu để thay đổi danh xưng.

Vậy, chính vì mặt mủi của nhóm cầm quyền tại Hànội trên trường ngoại giao quốc tế, Việtcộng mới phải xì ra cái tin với nhà báo Singapore là sẽ bỏ danh xưng “cộng sản” ác ôn, khát máu đi, để thế giới không dị ứng, chứ đâu phải là vì quốc dân. Kinh nghiệm lịch sử đau thương của dân tộc dậy rằng: Đảng Cộngsản Việtnam từng đã giải tán, nhưng chính quyền vẫn còn trong tay bọn họ, thì một lúc nào đó, khi họ loại trừ hết địch thủ, vượt qua những trở lực, họ sẽ lại hiện nguyên hình là một đảng độc tài toàn trị, với một cái tên nào đó để đáp ứng với nhận thức chung của từng giai đoạn. Lần này Việtcộng đừng hòng dở trò lừa dối đó để thuyết phục nổi dư luận nữa. Toàn dân Việtnam trong, ngoài nước và cả nhân loại đều biết rõ nhu cầu cấp thiết của Việtnam hiện nay là gì? Đó là Việtnam phải Dân Chủ Hóa triệt để. Khi nói đến “Dân Chủ Hóa” tức là đã mở ra một sinh lộ để Việtcộng xuống khỏi lưng cọp. Việtcộng cứ việc giữ lấy tên “cộng sản” mà chuộc tội với dân tộc và toàn dân, bằng cách tiến hành ngay công trình “dân chủ hóa” từ dễ tới khó.

Việc dễ làm, mà bớt nguy hiểm nhất đối với chính quyền tham nhũng gian ác Việtcộng là cho Tự Do Tôn Giáo. Nhìn nhận các Giáo Hội Dân Lập được công khai sinh hoạt. Cởi trói cho các Tôn Giáo đang nằm trong Mặt Trận Tổ Quốc, với quy chế “xin cho” của một Hiệp Hội, để các Tôn Giáo đó trở thành các tôn giáo có tính pháp nhân của giáo hội dân lập, độc lập với chính quyền trong việc hướng dẫn tâm linh con người và phụng sự xã hội. Ban hành đạo luật Tự Do Lập Hội, để các tập thể Xã Hội Dân Sự xuất hiện, trong đó có các Chính Đảng và Nghiệp Đoàn độc lập được tự do hoạt động. Tư nhân hóa truyền thông và Tự Do Ngôn Luận, từ đó thâu thập ý kiến đóng góp của toàn dân xây dựng Bản Hiến Pháp Tự Do Dân Chủ, Của Dân, Do Dân, Vì Dân đích thực, để thay cho bản Hiến Pháp Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam 1992, vi hiến, độc đảng toàn trị phản động hiện nay, nhằm tạo ra một Cơ Chế Công Quyền Dân Chủ, Phân Nhiệm (lập pháp, hành pháp, tư pháp), Điều Hợp mọi sinh hoạt Quốc Dân và Quốc Tế, hoàn toàn dựa trên Luật Pháp Dân Chủ.

Khi đã có sinh hoạt Xã Hội Tự Do để các tập thể Xã Hội Dân Sự và Truyền Thông Báo Chí tự bảo vệ quyền lợi của chính mình và của toàn dân, thì đương nhiên là giám sát, kiểm soát các Cơ Chế Công Quyền Dân Chủ, buộc những người cầm quyền phải tuyệt đối tôn trọng và nghiêm chỉnh thi hành đúng luật pháp Dân Chủ Quốc Gia. Chỉ có như vậy Chính Quyền mới không lạm quyền, tùy tiện ngồi lên hiến pháp, luật pháp như Việtcộng hiện nay. Hay là các Chính Quyền tiếng là do dân cử, mà khi Người Lãnh Đạo nắm được quyền lực và vũ lực, tức là Tài Chánh, Công An và Quân Đội trong tay, rồi khống chế Lập Pháp, Tư Pháp bóp chết Tự Do của toàn dân. để trở thành “Nhà Độc Tài khoác áo Dân Chủ” thì lúc đó đất nước tuy có hiến pháp, có bầu cử, nhưng cũng chỉ là nhà nước độc tài phản dân hại nước mà thôi. Khi, một chính quyền không dựa vào dân, không được dân hậu thuẫn, bị dân ghét bỏ, chống đối, mà muốn tồn tại thì không còn con đường nào khác là phải luồn cúi ngoại bang. Hồ Chí Minh và các lãnh tụ Việtcộng trước nay là tấm gương tầy liếp cho mọi người, hết theo Nga chống Tầu, rồi Nga thất thế quay lại theo Tầu chống Dân.

Giờ đây quen thói tay sai ngoại bang, lại muốn đổi tên đảng để dễ bề theo Mỹ. Nhưng Việtcộng đã bé cái lầm. Mỹ sau chiến tranh lạnh không còn dùng các chính quyền độc tài tay sai để dễ bảo, dễ thay nữa, mà chính quyền Mỹ, dù Cộng Hòa hay Dân Chủ cũng phải tuyệt đối theo đúng sách lược của nước Mỹ: Trực tiếp đến thẳng với chủ nhân đích thực của mỗi nước là toàn dân, mà Mỹ định đầu tư phát triển lâu dài. Chính vì vậy, mà hiện nay nước Mỹ lấy Nhân Quyền làm nguyên tắc cho chính sách ngoại giao của họ. Đòi hỏi các nước mà Mỹ nhận làm đối tác kinh tế phải Dân Chủ Hoá chính trị, Tự Do Hóa xã hội, Thị Trường Hoá kinh tế. Việtnam đã được Mỹ cho quy chế Quan Hệ Thương Mại Bình Thường Vĩnh Viễn - PNTR – đã được Mỹ dắt vào Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới – WTO – đã được Mỹ công khai ủng hộ để ngồi vào chiếc ghế Hội Viên Không Thường Trực của Hội Đồng Bảo An LHQ. Như vậy về mặt quốc tế, Việtnam đã hội nhập Kinh Trường Thế Giới, đã sắm một vai trò trọng yếu trên Chính Trường Quốc Tế. Lẽ đương nhiên chính quyền Bush phải chịu trách nhiệm về các hành vi sai trái, như vi phạm nhân quyền, mà Việtcộng có quán tính lật lọng. Chính vì vậy, mà một Phái đoàn của Ủy Hội Hoa Kỳ về Tự Do Tôn Giáo trên Thế Giới đã đến Việtnam từ ngày 21/10/07 để điều tra về vấn đề tôn giáo, ngoài việc gặp nhà cầm quyền Việtcộng, phái đoàn đi gặp các nhà lãnh đạo tôn giáo được công khai sinh hoạt, cùng các tôn giáo dân lập bị Việtcộng đặt ngoài vòng pháp luật, như hòa thượng Thích Quảng Độ, Viện Trưởng VHĐ, hòa thượng Thích Thiện Hạnh Chánh Thư Ký VTT, thượng tọa Thích Chí Thắng, Đặc Ủy Thanh Niên, huynh trưởng Lê Công Cầu, Vụ Trưởng Gia Đình Phật Tử của GHPGVNTN. Ngày 26/10/07 tại Thanh Minh thiền viện, hòa thượng Thích Quảng Độ đã trình bầy với chủ tịch Ủy Hội, ông Michael Cromatie và phái đoàn về hiện tình GHPGVNTN, kéo dài từ 14 giờ 30 tới 16 giờ 15. Phái đoàn thực sự quan tâm tới hoàn cảnh khó khăn và bị bức hiếp của GHPGVNTN. Kế đó mới là việc một phái đoàn Kinh Tế của Mỹ đến Việtnam để lo việc làm ăn. Bây giờ là lúc Mỹ dùng Nhân Quyền đi trước Kinh Tế theo sau. Rồi Quốc Hội Mỹ thông qua Đạo Luật Nhân Quyền Việt Nam 3096, để Hành Pháp Mỹ theo đó thúc đẩy tiến trình Dân Chủ Hoá Việt Nam sớm thành sự thật.

Little Saigon ngày 30/10/2007.

Lý Đại Nguyên

Hầu như cả dư luận quốc tế và lối nhìn dễ dãi của người Việt trong và ngoài nước đang bị Việtcộng lùa vào một mê hồn trận giữa nhận thức bất minh về “Tôn Giáo và Tín Ngưỡng”. Sự thật thì Việtnam hiện nay Việtcộng đã cho Tự Do Tín Ngưỡng thả giàn. Những nơi thờ tự mọc ra và trùng tu nguy nga. Dân chúng tha hồ đi cúng, lễ ở đền, chùa, nhà thờ, thánh thất. Thậm chí nhân đó chúng còn cho phép các loại mê tín dị đoan khác xuất hiện, nhằm bôi bác các nền tín ngưỡng chân chính. Nhất là chúng dám đem tượng tên dâm thần, ác tặc, vua bịp Hồ Chí Minh vào đền, chùa, để thờ chung với Quốc Tổ và Đức Phật. Các phái đoàn tôn giáo từ ngoại quốc được đón tiếp linh đình tại Việtnam. Thật trái ngược với chủ trương vô thần, cấm tín ngưỡng, bắt toàn dân phải tuyệt đố trung thành với lý tưởng duy vật của chế độ cộng sản trước đây. Khiến dư luận cho rằng ở Việt Nam đã có Tự Do Tôn Giáo. Thật là nham hiểm chúng đã dùng thứ “Tự Do Tín Ngưỡng” hổ lốn, mê hoặc lòng dân, để che đậy chủ trương “Khống Chế Tôn Giáo”.
Nói đến một Tôn Giáo hoàn chỉnh thì phải có: Giáo Chủ, Giáo Lý, Tu Sĩ, Tín Đồ, Giáo Hội, Đền Thờ, Tu Viện và các phương tiện truyền giáo như Kinh Sách, Truyền Thông, Giảng Thuyết, và các cơ sở Từ Thiện, Giáo Dục vv. Vậy, Giáo Hội là một tổ chức quy mô, tập họp Dân Chúng thành một Khối Lực Tín Ngưỡng Dân Lập, mà phải độc lập với chính quyền, để tự do hành hoạt thì mới gọi được là Tự Do Tôn Giáo. Chính vì sợ dân, nên Việtcộng chỉ chấp nhận các giáo hội đã bị thuần hóa, mà lại phải nằm trong hệ thống Mặt Trận Tổ Quốc, do cộng đảng lãnh đạo, mới được công khai sinh hoạt. Còn các Giáo Hội Dân Lập như Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất thì bị đặt ngoài vòng pháp luật của Việtcộng. Chẳng biết vì ngây thơ, hay giả vờ chậm hiểu, mà trong cuộc gặp Cộng Đồng Người Việt tại Little Saigon, ông Michael Michalak, đại sứ Mỹ tại Việtnam đã nói:
“Không biết hòa thượng Quảng Độ đã có nộp đơn lên nhà nước CSVN để xin giấy phép hoạt động chưa, và nếu hòa thượng Quảng Độ nộp đơn xin hoạt động thì tôi sẽ binh vực, đòi quyền hoạt động tôn giáo cho Ngài…”.
Lập tức dân biểu Rohrabacher lên tiếng rằng:
“Quyền tự do tôn giáo phải là tự động, chứ sao lại xin phép hoạt động mới cho”.
Dân biểu Rohrabacher đã dựa trên Tu Chính Án Số I của Hoakỳ để phát biểu.

Còn người Việt chúng ta thì dựa vào lịch sử dân tộc để khẳng định rằng: Đạo Phật đã hiện diện ở Việtnam trên 2.000 năm nay, đâu có phải xin phép ai. Từ thời Lý, Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn, triều đại nào sùng Đạo Phật thì thời đó Phật Giáo phát triển mạnh, nếu không thì Đạo Phật vẫn êm đềm sống trong lòng dân, cùng tồn tại với dân tộc. Cho đến năm 1964, giáo hội 3 miền Trung, Nam, Bắc Di Cư và hết thảy các Tông Phái Phật Giáo tại Việtnam đã kết hợp thành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Thống nhất không phải chỉ là giữa các tông phái Phật Giáo tại Việtnam, mà còn mang ý nghĩa Quốc Tế trọng đại hơn, đó là thống nhất trọn vẹn giữa Hai thực thể Đại Thừa và Tiểu Thừa, vốn đã bị chia lìa từ trên 2 Thiên Niên Kỷ trước, để thành một Giáo Hội Phật Giáo duy nhất. Có lẽ chỉ ở Việt Nam, với truyền thống dung hóa của dân tộc, mới làm được đại sự ấy. Rồi Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa biểu quyết công nhận tính cách pháp nhân của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Khi Viêtcộng vào chiếm Miền Nam 1975 thì GHPGVNTN vẫn công khai sinh hoạt và tổ chức Đại Hội năm 1977. Mãi đến năm 1981, Việtcộng mới bắt bỏ tù những vị lãnh đạo GHPGVNTN, để cho ra đời Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, nằm trong Mặt Trận Tổ Quốc do Cộngđảng lãnh đạo. Nhưng cũng không có văn bản nào hủy bỏ tư cách pháp nhân của GHPGVNTN. Vậy đứng trên mặt lịch sử và pháp lý. Giáo Hội Thống Nhất Dân Lập, độc lập với chính quyền đâu phải xin phép hoạt động, mà nếu Việtcộng muốn thực hiện Tự Do Tôn Giáo tại Việtnam thì phải công nhận Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là một thực thể Giáo Hội đương nhiên sinh hoạt hợp pháp mới phải đạo.

Điều đáng nói ở đây, còn rất nhiều người chưa phân biệt thế nào là Giáo Quyền với Thế Quyền. Thế quyền thì dễ phân biệt dân chủ và độc tài. Còn giáo quyền, nếu cũng lấy con mắt thế tục để nhìn và phân biệt thì sai bét. Giáo quyền vốn từ ơn trên ban xuống. Các tôn giáo thờ Thượng Đế thì giáo quyền còn gọi là Thần Quyền. Các nhà lãnh đạo giáo hội phài do Thiên Ý định đoạt. Chính vì vậy mà Giáo Hội Lamã, không bao giờ có người ứng cử chức Giáo Hoàng. Đã không có ứng cử thì cũng chẳng có bầu cử, như toàn dân bầu Tổng Thống, mà Hội Đồng Hồng Y phải tĩnh tâm cầu nguyện để ơn trên soi sáng, nhằm suy cử Giáo Hoàng. Qua nhiều vòng bỏ phiếu cho đến khi xuất hiện một vị duy nhất lên ngôi Giáo Hoàng. Giáo Hoàng, phong chức cho các Hồng Ý và Giám Mục. Giám Mục phong chức cho Linh Mục để điều hành giáo hội. Đức Phật không chủ trương thiết lập Giáo Quyền và Giáo Hội Trung Ưng. Gíáo quyền do Thầy, Tổ truyền xuống cho đệ tử. Đến Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất, tuy là một tôn giáo lấy Tâm Linh Con Người làm chủ, nhưng Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương cũng phải tĩnh tâm cầu nguyện, nương vào Phật Lực gia hộ để suy cử lên Đức Tăng Thống, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo và Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống. Vị Viện Trưởng VHĐ thỉnh cử các phụ tá, cũng như thỉnh tuyển những người điều hành giáo hội địa phương.

Măc dầu giáo quyền được đặt trên vai các bâc tôn túc, nhưng GHPGVNTN triệt để thực hiện nguyên tắc “Quán Thế Âm”. Nghĩa là tuyệt đối tôn trọng ý kiến của Đại Chúng, qua quyết nghị của Đại Hội. Tất cả chủ trương, đường hướng hành hoạt của Giáo Hội đều phải được đưa ra thảo luận công khai và biểu quyết với đa số tương đối tại Đại Hội, theo đúng nguyên tắc tự do dân chủ. Rồi hàng lãnh đạo Giáo Hội có trách nhiệm phải thực thi nghiêm túc những quyết nghị đó của Đại Hội. Ngay từ Đại Hội khởi thủy của GHPGVNTN, giáo hội đã chủ trương Phụng Sự Dân Tộc và Đạo Pháp, dù trải qua cuộc pháp nạn khủng khiếp dưới chế độ cộng sản vô tôn giáo, độc tài, toàn trị, khủng bố, sắt mắu. Cho đến nay, giáo hội đã có cơ tái phục hoạt, giáo hội vẫn kiên cường theo đuổi chủ trương Phụng sự Dân Tộc và Đạo Pháp. Bởi vậy mới phải áp dụng đường hướng bất bạo động, nhằm vận động Phục Hoạt Giáo Hội và tranh đòi Tự Do Dân Chủ Nhân Quyền cho Toàn Dân, để Việtnam sớm có Dân Chủ thực sự, để Việtnam thoát ách đọa đầy, để Việtnam vận động được nội lực dân tộc, nhằm phát huy tinh thần chủ động hội nhập với thế giới thời đại. Việc trước mắt là chư Tăng, Ni, Cư Sĩ, Phật Tử trong, ngoài nước cần giũ bỏ những tư kiến vặt vãnh sai khác, để tập trung tâm, ý, lực vào lý tưởng Phụng Sự Dân Tộc và Đạo Pháp của Giáo Hội, rồi cùng với các Tôn Giáo bạn và toàn dân, vận động cho Việtnam sớm thoái cơn Quốc Nạn, để các Tôn Giáo đều độc lập, tự do vào đời phục vụ cho Quốc Dân, trong một xã hội tự do, dưới chế độ dân chủ thực sự.

Little Saigon ngày 16-10-2007.

Lý Đại Nguyên

Do đức từ bi và đại nguyện cứu khổ, cứu nạn của Đạo Phật, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã thực hiện 3 cuộc công khai cứu trợ Dân Oan tại Sàigòn, ngày 13/07 và 17/07; cũng như tại Hànội ngày 23/08/2007. Nhất là vào ngày 17/07/07, có sự xuất hiện của Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, hòa thượng Thích Quảng Độ, cùng chia xẻ nỗi oan khuất với Dân Oan của các tỉnh Miền Nam tập trung về Sàigòn để khiếu kiện trong vô vọng. Vô vọng vì từ trước tới nay, Dân Oan chỉ có một cửa duy nhất là kêu oan với chính những kẻ đã tham lam, quyết tâm, cố ý tạo ra cảnh oan khiên đó. Vậy, Dân Oan thấp cổ, bé miệng, nghèo khó, làm sao, và đến kiếp nào mới được đền đáp xứng đáng!? Trong khi đó dân chúng đô thị thì lo bươm chải kiếm sống, thời giờ đâu mà lo chuyện bao đồng. Đến khi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất dân lập và ngài Quảng Độ nhập cuộc cứu trợ Dân Oan, thì tình thế lập tức đổi chiều. Dư luận người Việt trong, ngoài nước và quốc tế bắt đầu quan tâm và hết mình hỗ trợ Dân Oan Việt Nam, mà từ lâu đã bị bỏ quên, để mặc cho bọn Tham Nhũng Việt Cộng, lớn, bé tha hồ cướp, bóc lớp dân cùng khổ này.
Bọn Việtcộng thực sự hoảng sợ, họ đã vội vàng “chính trị hóa” vấn đề, cho rằng ngài Quảng Độ đã điểm trúng tử huyệt của “Đảng Việt Cộng Tham Nhũng”. Nên lập tức xuống tay đàn áp, giải tán Dân Oan. Rồi mở chiến dịch toàn diện đánh phá hòa thượng Thích Quảng Độ, và hàng giáo phẩm Viện Hóa Đạo, cũng như 22 ban đại diện của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Với một Giáo Hội đã bị Việtcông cố tình khai tử từ năm 1981, mà đã tự bứt phá cùm xích để ngang nhiên phục hoạt giữa trùng trùng hiểm nguy, kể từ ngày 02/05/1992 cho đến nay, thì sự đánh phá, quy chụp, nói xấu, khủng bố, trấn áp, bỏ tù, quản chế, đấu tố của chế độ độc đảng, độc tài, toàn trị Việtcộng đối với hàng lãnh đạo và tổ chức Giáo Hội mà không xẩy ra mới là chuyện lạ. Nhưng điều tối nguy hiểm cho giáo hội là Việtcộng đã vận dụng được những tăng sĩ, vốn từng là nạn nhân hàng đầu của cộng sản trước kia ở trong nước, và những cư sĩ có công lớn trong công cuộc phục hoạt giáo hội tại hải ngoại, để chống laị cá nhân hòa thượng Quảng Độ, chỉ vì tâm trong sáng, tính cương trực, hạnh kiên trì bất khuất của Ngài, không chịu thỏa hiệp với chế độ độc tài Việtcộng trong khi Việtnam chưa có tự do tôn giáo, người dân Việtnam chưa được sống trong chế độ dân chủ tự do thực sự.

Họ cho rằng chính ngài Quảng Độ là trở lực trong việc Việtcộng thừa nhận tính cách hợp pháp của giáo hội. Vì nhà cầm quyền Việtcộng đã đưa ra miếng mồi nhử, rất dễ nuốt, đối với những kẻ thiển cận, muốn mau chóng thay đổi tư thế một giáo hội nạn nhân trở thành một giáo hội thỏa hiệp, qua 3 lựa chọn. 1- Chấp nhận danh xưng GHPGVNTN nhưng loại bỏ 2 ngài Huyền Quang và Quảng Độ. 2- Phải bỏ danh xưng GHPGVNTN, lấy một danh xưng khác. 3- Sát nhập 2 giáo hội dân lập và đảng lập vào thành Tổng Giáo Hội. Lẽ tất nhiên cả ba hình thái giáo hội đó vẫn phải chịu chi phối bởi quy chế “xin cho”của Pháp Lệnh Tôn Giáo Tín Ngưỡng, phải thống thuộc trong Mặt Trận Tổ Quốc do cộng đảng lãnh đạo. Cả 3 lựa chọn đó chỉ là một sự đầu hàng nhục nhã, phản bội lý tưởng của tăng, ni, phật tử đã hy hiến sinh mạng cho đạo pháp, những hy sinh của tăng, ni, phật tử đã bị đầy ải, cầm tù; nhất là dập tắt nguồn hy vọng của phật tử cũng như toàn dân đang hướng về Giáo Hội Dân Lập Truyền Thống của Dân Tộc, để cùng góp sức trong công cuộc tranh đòi Tự Do Dân Chủ cho Việtnam.

Để tránh nạn Việcộng dùng những người thân quen của giáo hội hợp sức với họ lũng đoạn tổ chức của Giáo Hội ở trong cũng như hải ngoại. Nhất là việc Việtcộng có thể dùng bạo lực để triệt tiêu Lưỡng Viện Tăng Thống và Hóa Đạo, nên Đức Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang, ngày 08/09/2007 đã ban hành Giáo Chỉ số:09/VTT/GC/TT, thành lập Văn Phòng II Viện Hóa Đạo đại diện cho Viện Hóa Đạo tại hải ngoại, truyền đạt chủ trương đường lối và hoạt động của Giáo Hội. Văn Phòng ÌI trực thuộc sự chỉ đạo của Viện Trưởng VHĐ. Thành viên Văn Phòng II do Viện Trưỏng VHĐ thỉnh tuyển, bổ nhiệm. Văn Phòng ÌI, nối tiếp nhiệm vụ và hoạt động của Giáo Hội gặp lúc Viện Hóa Đạo trong nước bị đàn áp không thể hoạt động. Văn Phòng ÌI và các thành viên được thỉnh cử hoạt động vô thời hạn. Hòa thượng Thích Hộ Giác được thỉnh tuyển và bổ nhiệm làm Chủ Tịch Văn Phòng ÌI VHĐ. Thượng tọa Thích Viên Lý, tổng thư ký. Sư bà Thích Nữ Nguyên Thanh, tổng thủ bổn… và các thành viên khác đều là những người có thành tích kiên trì phục hoạt giáo hội và tranh đòi tự do dân chủ cho quê hương. Như thế Việtcông không thể thò tay ra hải ngoại để phá hoại được. Trước đây khi các vị lãnh đạo Giáo Hội trong nhà còn bị cầm tù thì chính Tăng, Ni, Cư Sĩ tại hải ngoại là lực lượng tiền phong trong phong trào phục hoạt Giáo Hội. Vậy Việtcộng đừng hoang tưởng là tiêu diệt nổi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất nữa.

Việc kiện toàn và tinh hóa lại hệ thống điều hành Giáo Hội lần này, tuy là một cuộc giải phẫu kịp thời, nhưng mất mát khá nặng về mặt tình cảm. Trong Thông Bạch Hướng Dẫn Thi Hành Giáo Chĩ số 09 của Đức Tăng Thống. Hòa thượng Viện Trưởng VHĐ đã nhắc tới bản phúc trình của hòa thượng Thích Thiện Hạnh, Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống về việc 2 cư sĩ hải ngoại Trần Quang Thuận và Bùi Ngọc Đường chê trách hòa thượng Thích Quảng Độ. Nguyên văn của ngài Thiện Hạnh là: “Sau hết Bùi Ngọc Đường còn khuyên chúng tôi từ chức Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống để nghỉ ngơi, giống hệt như lời thượng tướng công an Nguyễn Văn Hưởng đã khuyên Đức Tăng Thống thôi việc, nghỉ ngơi. Giọng điệu hai anh như muốn thỏa hiệp (với nhà nước) để sinh hoạt, ý tưởng ấy còn được thấy rõ qua nhóm Thân Hửu Già Lam” . “Chúng tôi được biết, ở tu viện Quảng Hương Già Lam (Gò Vấp Sàigòn) cách đây một năm đã thành hình một nhóm có tên gọi ‘Thân Hữu Già Lam’. Thành viên khoảng trên dưới 40 vị, gồm các thành phần Tu sĩ, Cư sĩ, Cư sĩ tu xuất, có mặt trong, ngoài nước khắp các châu lục. Các vị sinh hoạt dưới dạng Tăng Già, chưa dám đứng hẳn vào Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam năm 1981 (tức là Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước). Các vị quyên góp gây quỹ xây dựng Đại Học, Thư Viện, Hội Trường, làm Văn Hóa, Giáo Dục Phật Giáo. Đứng đầu nhóm có giáo sư tiến sĩ Lê Mạnh Thát và học giả thượng tọa Thích Tuệ Sỹ”.

Nói thật cho mà biết, Việtcộng còn cầm quyển ngày nào, thì lời hứa của họ với các vị về các công trình Văn Hóa Phật Giáo nêu trên, đến kiếp sau cũng chẳng có. ( Buồn quá Tuệ Sỹ ơi! Không biết Tuệ Sỹ còn nhớ cái án tử hình của mình không? Có nhớ mấy chữ khi còn ở tù viết ra cho thầy Đức Nhuận rằng: “Giáo Hội Phật Giáo không thể nằm trong Mặt Trận Tổ Quốc” không? Tg). Nói gì thì nói, làm gì thì làm, GHPGVNTN còn các ngài Huyền Quang, Quảng Độ, Thiện Hạnh, và ngài Đức Chân là Già Lam Truyền Thừa, cùng quyết tâm phục hoạt Giáo Hội Dân Lập Truyền Thống, dù cho các Ngài còn bị quản chế, hay ở tù, thì Tăng, Ni, Cư Sĩ, Phật Tử trong, ngoài nước vẫn hướng theo các Ngài, để góp sức với Văn Phòng II VHĐ và toàn dân trong công cuộc vận động Tự Do Dân Chủ cho Việt Nam đến thành công.

Little Saigon ngày 09-01-2007.

Lý Đại Nguyên
Từ ngày Nguyễn Tấn Dũng ngồi vào ghế thủ tướng, chưa thấy làm được điều gì ích nước lợi dân, chỉ thấy toàn là những hành vi chống lại với tiến trình đổi mới. Điều đáng tức cười nhất là Dũng luôn luôn tự rút súng bắn vào chân mình. Như việc đi gặp Giáo Hoàng của Kitô Giáo Hoàn Vũ ở Lamã xong, liền để mặc đàn em đập phá tượng Đức Mẹ Sầu Bi và bỏ tù Lm Nguyễn Văn Lý, rồi hô hoán lên là Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và Tòa Thánh Vatican đồng ý. Để Giáo Dân và Giáo Hội Kitô phải có thái độ phản đối. Điều ngu muội nhất là Dũng đã tự bắn vào đầu mình khi ban hành chỉ thị số 37/CP, ngày 29/11/2006, nhằm bịt miệng báo chí, tạo điều kiện cho khuynh hướng bảo thủ đưa Lê Doãn Hợp vào chức Bộ Trưởng Thông Tin Truyền Thông để buộc tất cả báo giới Việt Nam phải “đi đúng lề đường bên phải” của phe bảo thủ, có nghiã là đi trái hướng của đường đổi mới. Biết rằng, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết sở dĩ có được vị thế lãnh đạo hôm nay, đều nhờ vào không khí đổi mới, phát xuất từ Miền Nam, mà tờ báo Tuổi Trẻ của Sàigòn có công đầu.

Ấy thế mà chính tờ Tuổi Trẻ lại trở thành “con dê tế thần” cho phe bảo thủ của Nguyễn Tấn Dũng mới là đau. Kẻ đau nhất không ai khác hơn là cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt, người đỡ đầu của tờ Tuổi Trẻ lẫn Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Minh Triết. Ngay sau vụ 2 phó tổng biên tập của Tuổi Trẻ bị ngưng chức, Võ Văn Kiệt đã gặp cơ quan chủ quản của báo Tuổi Trẻ là Ban Thường Vụ Thành Đoàn Thanh Nìên. Trong gần 4 tiếng, Võ Văn Kiệt đã dùng nhiều thời giờ nói về vấn đề tổ chức, quản lý của Thành Đoàn với các đơn vị trực thuộc. Ông nói: “Tờ báo Tuổi Trẻ hay nhà xuất bản Trẻ, thời kỳ đấu tranh thành lập, nếu không có cơ quan quản lý, không ra đời được. Một tờ báo lớn nhất của cả nước không còn mặc được cái áo của Thành Đoàn trước đây, Tuổi Trẻ không chỉ viết về đối tượng tuổi trẻ, thanh niên, mà là tất cả đối tượng khác; không chỉ xã hội, đời sống, mà là những vấn đề chính trị nữa. Nó vượt quá tầm địa phương rồi”. Việc Võ Văn Kiệt quyết liệt nhập cưộc, với ý hướng muốn tờ Tuổi Trẻ không còn bị thống thuộc Thành Đoàn Thanh Niên Cộng Sản nữa, và với việc Nguyễn Tấn Dũng tự thủ tiêu tư thế đổi mới của mình, chắc chắn nội bộ Việtcộng sẽ còn nhiều màn trình diễn ngoạn mục.

Nhưng, trong nhất thời thì khuynh hướng bảo thủ đang thắng thế. Chúng đã đánh giập đầu tờ Tuổi Trẻ tiêu biểu cho khuynh hướng đổi mới, để bắt toàn thể báo chí Việtnam phải xếp hàng theo lệnh điều khiển của Lê Doãn Hợp, đồng loạt hợp xướng với bài bình luận của báo Nhân Dân điện tử đả phá Hòa Thượng Thích Quảng Độ và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, dưới tựa đề: “Thích Quảng Độ và các tham vọng chính trị đội lốt tôn giáo”. Trong đó nói, Hòa Thượng đã cầm đầu một số phần tử cực đoan, hoạt động chống phá nhả nước gây rối làm mất trật tự công cộng. Cùng với báo Nhân Dân, báo Tiền Phong và ViệtnamNet cũng đăng một loạt bài công kích việc Hòa Thượng Thích Quảng Độ và các cộng sự, tổ chức cứu trợ cho Dân Oan đi khiếu kiện nhà đất.
Vì vào ngày 17/07/2007, Hòa Thượng đã đích thân cùng với phái đoàn của Giáo Hội, đến gặp, an ủi, trợ giúp chút tịnh tài cho những Dân Oan khốn khổ, nheo nhóc, đói khát, tụ tập la liệt bên ngoài Văn Phòng Quốc Hội 2 ở Sàigòn cả tháng trời, để khiếu kiện, mà chẳng ma nào đoái hoài. Việc đó đã làm Việtcộng hoảng sợ, khiến chúng vội vàng xuống tay đàn áp, giải tán Dân Oan, làm cho dư luận người dân trong ngoài nước và quốc tế thêm oán ghét Việtcộng hơn. Lập tức Hoà Thượng nhân danh Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN đưa ra kêu gọi đồng bào trong ngoài nước, tiếp tay cứu trợ Dân Oan Việt Nam, lời kêu gọi được hưởng ứng nồng nhiệt. Rồi ngày 23/08/07, Ngài Quảng Độ lại ủy cho Thượng Tọa Thích Không Tánh, Tổng Vụ Trưởng Từ Thiện Xả Hội của Viện Hóa Đạo ra tận Hànôi để cứu trợ cho Dân Oan. Khiến lãnh đạo Viêtcộng cuống cuồng phải cho công an bắt Thầy ngay trước mắt Dân Oan, trong khi Thầy vừa mới trao tiền cứu trợ được một số người. Đây là một hành động thô bạo “ăn cướp cơm chim”, làm cho Dân Oan ngỡ ngàng, bật khóc và kêu réo vang trời, đòi Công An phải thả ngay Thầy Không Tánh ra. Sau một thời gian cầm giữ, đe dọa, thuyết phục thầy Không Tánh không kết quả, chúng buộc phải trả lại toàn bộ ngân khoản cứu trợ, kể cả số tiển bọn họ lấy được từ tay Dân Oan, rồi chuyển Thầy về Sàigòn thả xuống cổng chùa Liên Trì nơi Thầy cư ngụ.

Từ đó báo chí Việtcộng bắt đầu mở chiến dịch chụp mũ, tố cáo Hòa Thượng Thích Quảng Độ và Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất là khích động Dân Oan gây rối loạn. Đáng buồn là một số trí thức, chính khách gà mờ, vội cho rằng, không nên biến vụ việc Dân Oan Khiếu Kiện thành phong trào đấu tranh chính trị. Có thể là một tổ chức nào khác thì có ý đồ đó, nhưng với Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất, hay bất cứ một tôn giáo chân chính nào, thì luật Phật, luật Trời cũng buộc các tín đồ, tín hữu và các giáo hội đó đều phải có trách nhiệm thiêng liêng là cứu giúp những người lâm cảnh khốn khó oan khuất. Trước cảnh Dân Oan Khiếu Kiện Việt Nam đói khát, tàn tạ nằm vật vã la liệt, đi đứng vất vưởng nơi hè phố của Sàigòn, Hànội, mà không phát tâm cứu giúp thì kè đó không phải là Người, chứ đừng nói là bậc tu hành của tôn giáo chân chính. Thế nên dù biết rõ hành động cứu trợ Dân Oan của mình có bị Việtcộng vu khống lên án, hoặc bỏ tù, hay giết chết, thì ngài Quảng Độ và các vị thuộc Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất cũng hoan hỷ đón đợi.

Chỉ tội nghiệp cho Nguyễn Tấn Dũng, việc đánh phá ngài Quảng Độ và GHPGVNTN đi cứu trợ Dân Oan Khiếu Kiện lại chính là hành động Nguyễn Tấn Dũng tự bắn vào tim mình. Vì thực ra Dân Oan đa số là những đồng chí, đồng đội và đồng tình của Dũng trước kia, họ đặt nhiều hy vọng vào việc Dũng làm thủ tướng, Triết làm chủ tịch nước để oan khiên của họ được sớm giải quyết. Nhưng chẳng những chính phủ của Nguyễn Tấn Dũng đã lờ đi, đùn về cho bọn thủ phạm địa phương tự giải quyết, lẽ cố nhiên là “đánh bùn sang ao”. Dân Oan lại kéo lên Sàigon, Hànội để nhịn đói, chịu khát khiếu kiện. Thế mà bọn Dũng, Triết lại chận không cho Phật Giáo Thống Nhất cứu trợ thì quá là tàn nhẫn. Việc Nguyễn Tấn Dũng tự bắn vào chân, bắn vào đầu, bắn vào tim, rồi lê thân tàn què quặt, với cái đầu méo mó, trái tim không hồn tới Liên Hiệp Quốc xin làm hội viên không thường trực của Hội Đồng Bảo An, thì nếu có được tổ chức Quốc Tế này thí bỏ cho vị trí đó, cũng chẳng vẻ vang gì cho Việtnam ta.

Little Saigon ngày 28/08/2007.

Lý Đại Nguyên

Công cuộc vận động Tự Do Tôn Giáo tại Việtnam kéo dài 30 năm 1975-2005, với biết bao hy sinh, bị bức tử, tù đầy đối với các bậc tu hành tôn quý và những người có niềm tin vào giá trị tâm linh. Bi thảm không cùng là phải mất tới 22 ngọn lửa tự thiêu, đều có một tâm nguyện là đánh động lương tri của đảng cộng sản cầm quyền, sớm trở lại tính người, biết tôn trọng nhân quyền, trả những quyền tự do cơ bản cho toàn dân, mau dân chủ hóa chế độ. Đồng thời cũng thắp sáng lên tinh thần vô úy nơi tâm hồn mỗi người dân đang chịu đầy đọa, để cùng vượt khỏi sự sợ hãi, minh danh, công khai đòi lại những gì người dân phải có, mà cộng sản đã cướp đoạt suốt 60 năm dài. Nên có nhiều người, nhiều giới trong nước bừng khởi khí thế, đứng lên công khai đấu tranh cho Tự Do Dân Chủ và Nhân Quyền, dù hiểm nguy vẫn trùng trùng bao phủ; rồi, từng người, từng người bị trả giá cho lòng dũng cảm và sự hiểu biết của mình. Do vậy, đã quy tụ đươc sự góp sức vận động không mệt mỏi của người Việt khắp nơi trong, ngoài nước. Chính cuộc vận động Tự Do Tôn Giáo từ bi hào hùng mà kiên trì quyết liệt, thể hiện thật đầy đủ văn hóa tính của dân tộc và trình độ văn minh thời đại, đã chinh phục được lương tâm nhân loại, thuyết phục nổi dư luận toàn thế giới không ngừng hỗ trợ, buộc nhà cầm quyền cộng sản Việtnam phải chùn tay đàn áp, khiến cho các Tôn Giáo Dân Lập có thể ngang nhiên phục hoạt và kiện toàn tổ chức, tuy vẫn còn bị nằm trong sự o ép rình rập thường xuyên.

Từ cuối năm 2005 đến đầu năm 2006, các cuộc biểu tình bãi công đòi quyền lợi của giới lao động nổ ra và lan rộng khắp nước, lay động tới tận gốc rễ của chế độ bạo quyền cộng sản, từ lâu nay vẫn nhân danh giới lao động để cướp quyền lãnh đạo Quốc Gia của toàn dân. Nay chính người lao động Việt Nam đã đứng dậy tố cáo chế độ đó đang toa rập với các chủ nhân ngoại quốc, bóc lột, hành hạ và đầy đọa công nhân Việt Nam, giống như các Nông Nô, Công Nô thuộc Lãnh Chúa Phong Kiến xưa và Chủ Nhân Tư Bản man rợ Âu Châu thế kỷ 19, thời phát sinh Cộng Sản Chủ Nghĩa. Dù rằng chế độ cộng sản trên toàn thế giới nay đã sụp đổ, nhưng nhóm lãnh đạo Hànội vẫn bám lấy thứ chủ nghĩa lỗi thời thổi rữa Mác Lê Hồ ấy, để duy trì quyền lực độc đảng độc tài toàn trị, nhằm che đậy chủ trương tham nhũng, rồi Tư Bản Hóa cộng đảng và đảng viên.

Để chuẩn bị dư luận cho đại hội X, đưa ra chủ trương công khai hóa việc đảng viên làm kinh tế tư nhân, nhằm hợp pháp hóa tài sản tham nhũng của đảng viên, đầu năm 2006, nhóm lãnh đạo đảng đã phát động phong trào toàn dân góp ý với đại hội X của cộng đảng, về chủ đề 20 năm đổi mới. Thật là sôi động, các cựu lãnh đạo đảng, những “trí thức” của đảng, chẳng những không lớn tiếng ca tụng đảng như xưa, trái lại mạnh bạo tấn công vào những sai trái của đảng, kể cả cơ chế lỗi thời, lẫn những sai lầm trong việc quản trị đảng và điều hành nhà nước một cách tùy tiện vi phạm kỷ luật đảng lẫn pháp luật nhà nước, dẫn tới quốc nạn tham nhũng hết thuốc chữa. Quan trọng hơn hết là họ đều nhắm thẳng vào Bản Báo Cáo Tổng Kết Lý Luân của khóa họp thứ 12 ban Chấp Hành Trung Ương Đảng đưa ra, trong đó vẫn cương quyết duy trì quan điểm cộng sản thủ cựu, là trung thành với “chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Tất cả những bài góp ý công khai ngay trên báo đảng và mạng lưới toàn cầu, cùng có chung một nhận định: Nếu Việtnam cứ kiên trì giữ thứ xã hội chủ nghĩa hoang tưởng lạc hậu Mác Lê Hồ thì Việtnam mãi mãi tụt hậu so với lân bang, chẳng thể đổi mới nổi. Còn việc cho đảng viên làm kinh tế tư nhân, rõ ràng là lý luận của đảng nói một đàng làm một nẻo. Sự thật thì đảng viên cộng sản Việtnam, kẻ còn quyền cũng như người mất quyền, chẳng ai biết được hình thù của thứ xã hội chủ nghĩa, mà Hồ Chí Minh rước từ Nga về, rồi bắt mọi người phải tuyệt đối tôn thờ và thực hiện, nó là thứ quái quỷ gì? Đến thời phải thích ứng với Kinh Tế Thị Trường, cộng đảng đành phải cột vào đó thêm một cái đuôi kệch cỡm Kinh Tế Thị Trường “theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, lấy công ty Quốc Doanh là chủ đạo”.Để rồi Quốc Doanh luôn luôn khai làm ăn thua lỗ. Vì sự sống còn của nền Kinh Tế Thị Trường là phải đặt trọng tâm vào phát triển khu vực Tư Doanh, nên cộng sản buộc phải bỏ chủ trương lấy Quốc Doanh làm chủ đạo, cho đảng viên làm kinh tế tư nhân. Thế nên bằng cách này hay cách khác, họ đang hăng hái, hăm hở tự đào thải chủ nghĩa xã hội ra khỏi tư tưởng và đời sống thật của mình.

Những nhà ly khai, đối kháng, được dịp xoáy xâu vào cái gốc gian trá, mục rữa của chủ nghĩa Mác Lê và tư tưởng nô lệ của Hồ, nó đã tạo ra toàn là thứ quái dị “nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi”. Từ lãnh đạo xuống đảng viên “khỉ chẳng giống khỉ, người không ra người”, nó chỉ muốn có quyền để tham nhũng kiếm cho thật nhiều tiền, rồi từ chế độ xã hội chủ nghĩa lạc hậu, mau mau tiến lên chủ nghĩa tư bản tài phiệt man rợ. Nhất là cái cơ chế ‘song trùng” chồng chéo nhau, đảng quyền trùm lên chính quyền. Quốc Hội, Chính Phủ, Toàn Án là bù nhìn của đảng, mà đảng thì toàn do những thứ bất tài vô đức ngoan cố già cỗi ăn hại lãnh đạo, thế nên cả hệ thống cai trị nhà nước trở thành trì trệ trong công việc ích quốc lợi dân, nhưng lại quỷ quyệt ranh ma trong việc tham nhũng bóc lột dàn áp dân chúng, đục khoét ngân sách nhà nước.

Với không khí hào hứng góp ý đó, dư luận trong và ngoài nước cho rằng: Kỳ đại hội X này, sẽ có nhiều màn trình diễn đổi mới ngoạn mục, nhằm tạo ra một thời kỳ chuyển tiếp cho tiến trình dân chủ hóa chế độ, để có đủ tư thế vững vàng gia nhập thời đại toàn cầu hóa. Dù Nghị Quyết Đại Hội X không còn dám nhắc tới khẩu hiệu vô duyên Chủ Nghĩa Mác Lê Hồ. Nhưng buồn thay! Toàn văn bản Báo Cáo Chính Trị lỗi thời vẫn đã được thông qua. Nhóm lãnh đạo mới, khóa X, cũng lại do nhóm lãnh đạo cũ, khóa IX tiền chế để cho đại hội đảng bầu cho phải phép. Đúng là cha mẹ chuột chỉ có thể sinh ra con chuột con, chứ không cách gì đẻ được con voi lớn. Tuy nhiên “con chuột con” lần này được cái trắng trẻo mập mạp hơn “con chuột nhắt” kỳ trước. Vì trong nhóm 5 tên chóp bu lãnh đạo của cộng đảng lần này thì chỉ còn 2 kẻ được đào tạo trong môi trường văn minh “củ khoai” Miền Bắc, bởi thứ giáo dục nhồi sọ một chiều của Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Xô, còn 3 người trưởng thành trong không khí văn hóa “gạo trắng” Miền Nam, do nền giáo dục tự do cởi mở của nền Dân Chủ Toàn Cầu. Nhờ đó, may ra vẫn còn một chút hy vọng mỏng manh nhỏ nhoi cho tương lai gần của tiến trình đổi mới.

Chữ đổi mới ở đây dùng là chỉ cho những người cộng sản phải tự đổi mới, để bước kịp với tình thế Việtnam. Nếu không đổi mới kịp trào lưu thì sớm muộn cũng bị loại bỏ. Vì hiện nay dân Việtnam không còn sợ uy quyền của đảng nữa, dư luận quốc tế và nhu cầu của Việtnam phải hội nhập với sinh hoạt toàn diện của thế giới, đã là sợi giây vô hình trói tay đàn áp của nhà cầm quyền cộng sản độc tài trên ghế cai trị, không còn tự tung, tự tác khủng bố như xưa, mà chỉ được làm ra những trò ngu xuẩn vừa đủ để khích thích cho phong trào Tự Do Dân Chủ có dịp bộc phát, mở ra Mùa Công Khai Đấu Tranh Chính Trị Dân Chủ Toàn Diện của Toàn Dân.

Riêng về chổ dựa xưa nay cho quyền lực độc đảng độc tài của Việtcộng là đàn anh Trungcộng, vốn là một trở lực lớn nhất cho việc dân chủ hóa chế độ, thì Tổng Cục II chịu ảnh hưởng của Tình Báo Trungcộng đã bị loại, hâu hết nhóm lãnh đạo theo Bắc Kinh đã thất thế. Hoa Kỳ và các nước, các tổ chức cấp viện đang dùng sức mạnh của đồng Dollars đầu tư, cho vay và viện trợ để đè bẹp dí ảnh hưởng của Trung Cộng trong thực tế sinh hoạt thị trường và đời sống xã hội Việtnam, cũng như thổi bay ý niệm thân Tầu ra khỏi những chiếc đầu nô lệ, và ngay cả trong mơ ước của đảng viên Việtcộng, từ thấp lên cao. Vì hầu như tất cả đảng viên đều đang có cùng một giấc mơ là muốn cho con cái họ sang Mỹ học, rồi lấy vợ, gả chồng với những thanh niên nam nữ Mỹ gốc Việt, để lo cho tương lai lâu dài của họ, như các con của vị thủ tướng tuổi trẻ tài chẳng cao, đã sớm lo xa, nhìn sâu, thấy đúng, giống vị thủ tướng của nước láng giềng bên hông vậy. Nên năm 2007 tình hình Tự Do Dân Chủ Việt Nam nhất định sẽ sáng sủa thêm. Vì, ông Thần Tự Do và bà Tiên Dân Chủ Việt Nam đã xuất hiện.

Lý Đại Nguyên

Lý Đại Nguyên

Mặt trận Iraq, Mỹ chỉ mới bắt đầu chuyển hướng vào việc ngăn cuộc nội chiến, giúp chính quyền Mailiki giải thể các lực lượng dân quân vũ trang. Nhóm Mahdi Army của giáo sĩ quá khích Shiit, Muqtada al Sadr thân Iran bị truy lùng, tước khí giới. Chính al Sard đã bỏ trốn. Nhóm khủng bố người Sunni liên tục từng ngày bị tiêu diệt, mặc dầu các cuộc ôm bom tự sát của bọn Khủng Bố đánh vào dân thường đang còn diễn ra đều đặn. Nhưng cuộc lễ hội khổng lồ Ashura của giáo phái Shiit toàn thế giới, tập trung hàng triệu người, vẫn diễn ra ở thánh địa Karbala, gần Baghdad, đánh dấu 680 năm, lãnh tụ Imam Hussein cháu trai của Tiên Tri Muhammad tử trận, khiến Hồi Giáo chia thành 2 phái Sunni và Shia.

Xem ra niềm tin của người dân Shia vào tôn giáo mình đã bất chấp những đe dọa của bom mìn, và chính quyền Baghdad phần nào đã khởi sắc để thành một chính quyền Quốc Gia. Trái lại ở Iran, những người ôn hòa đã bắt đầu lên tiếng phản đối thái độ cộc cằn và đường lối ngoại giao phi chính trị của ông tổng thống Ahmedinejad. Trong khi đó Hoa Kỳ đang triển khai hỏa lực tại vùng Vịnh, nhằm giải quyết những bế tắc tại Trung Đông và tích cực áp lực toàn diện xuống Iran, để buộc chính quyền Tehran phải từ bỏ việc chế tạo nguyên tử và thọc tay vào nội tình Iraq, thì tại chính nước Mỹ, tổng thống Bush bị đảng Dân Chủ tìm cách trói tay. Dư luận phản chiến chỉ muốn quân Mỹ bị thất trận tại Iraq giống như ở Việt Nam trước kia.

Nhưng nều hướng nhìn về Á Châu thì thấy chính sách Mỹ ở đây đang tiến vào thế tạm yên. Hoa Kỳ và Hàn Cộng trực tiếp nói chuyện với nhau, để mở lại hội nghị 6 bên về vấn nhằm gỡ bỏ nguyên tử của Bắc Hàn. Có nghĩa là người bạn lớn Bắc Kinh đã phải quay mặt đi để đàn em Kim Chính Nhất được thành đạt nguyện vọng là đi thẳng với Hoa Thịnh Đốn. Trong khi đó Hồ Cẩm Đào chủ tịch Trung Cộng hân hoan cầm 3 tỷ USD đi giúp các nước Phi Châu, nhằm tạo ảnh hưởng lâu dài tại Lục Địa Đen này. Khởi đầu ngày 30-01-07, bằng chuyến công du 8 nước là Sudan, Nam Phi, Cameroon, Liberia, Zambia, Namibia, Mozambique và Seychelles. Trước đó, quan hệ Nhật Bản - Trung Hoa đã ấm lại. Đối tác kinh tế giữa khối ASEAN, với các nước trong vùng Á Châu Thái Bình Dương đi dần vào nề nếp. Chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ về Phương Đông xem như xuôi chèo mát mái.

Khiến cho Hànội yên tâm thiết lập quan hệ toàn diện với Mỹ và hội nhập với nền kinh tế Toàn Cầu. Nhưng Cộng Sản Việt Nam chỉ muốn hội nhập về mặt kinh tế và ngoại giao, còn về chính trị, nội trị thì vẫn giữ độc đảng, độc quyền giống như chế độ Gia Trưởng Khoác Áo Dân Chủ cha truyền con nối của Singapore. Bởi vậy, 10 năm trước, khi Việt Nam bước chập chững vào Đổi Mới đã mời ông thủ tướng Lý Quang Diệu của Singapore vào làm Tư Vấn cho Việt Nam. Năm nay thực tế là phải sống với Mỹ, nhóm lãnh tụ Hànội lại mời ông Lý tới để tham vấn. Vì trong các lãnh tụ Á Châu, Lý Quang Diệu là người nắm vững và đi đúng chiến lược toàn cầu của Mỹ nhất, nhờ thế mà tiểu quốc Singapore êm đềm phát triển không ngừng.

Ông Lý Quang Diệu đưa ra lời khuyên cho lãnh đạo Việtcộng: Về mặt quản lý, “đó là chính sách mạnh tay khi cần thiết, thay thế những cá nhân lỗi nhịp trong bộ máy…thực thi cải cách hành chánh với mô hình một cửa và đơn giản thủ tục, hoạch định chính sách dân số và quy hoạch đô thị, lương cao cho cán bộ viên chức, đánh thuế vào tiêu thụ, giảm thuế doanh nghiệp và thuế thu nhập của người dân”. Về đào tạo: “tự chủ hơn cho đại học” , “đưa tiếng Anh vào chương trình giảng dậy bắt buộc”. Theo họ Lý: “Thế giới đang thay đổi là thách thức lớn nhất. Nếu tự mãn với những gì đã có được, chúng ta sẽ chóng bị tụt hậu và bị vượt bỏ”. “Việt Nam cần luôn luôn thay đổi, cập nhật theo tình hình mới, có chính sách nhất quán theo một tầm nhìn lớn và bắt tay biến tầm nhìn lớn thành hiện thực”
Chẳng hiểu “thái thượng hoàng” Võ Văn Kiệt và nhóm lãnh đạo Hànội có tầm nhìn lớn đến đâu? Mà vừa trèo vừa run, vẫn cứ thay đổi cầm chừng nhỏ giọt. Đại Hội 4 Ban Chấp Hành Trung Ương vẫn nắm độc quyền chính trị, chỉ mới thu gọn cơ cấu đảng lại thành 6 đầu mối: 1- ban Tổ Chức, 2- ban Kiểm Tra, 3- ban Tuyên Giáo, 4- ban Dân Vận, 5- ban Đối Ngoại. 6- Văn Phòng Trung Ương, chưa dám Tư Nhân Hóa ngành Truyền Thông Báo Chí, chưa trao quyền cho cử tri trực tiếp bầu ra Quốc Hội. Hội nghị chỉ mới thống nhất chủ trương chuyển các Doanh Nghiệp làm kinh tế hiện thuộc các cơ quan Đảng, lực lượng vũ trang, mặt trận Tổ Quốc, các đoàn thể xã hội sang cho nhà nước quản lý từ năm 2007. Có nghĩa là từ nay, các doanh nghiệp do đảng, quân đội, công an, mặt trận, từ Trung Ương, các Bộ, xuống tới Tỉnh, Huyện, Xã trước đây thuộc quyền chủ quản của đảng, điều hành bởi cán bộ đảng viên, gọi chung là Đảng Doanh, nay đều thuộc quyền quản lý của Nhà Nước. Để cho chính phủ toàn quyền giải tư, nhằm đáp ứng với nguyên tắc Thị Trường của WTO. Việc này Trung Cộng đã thực hiện dưới thời Giang Trạch Dân và Chu Dung Cơ, tạo ra một rừng người thất nghiệp. Đến nay Hànội mới dám thực hiện. Lẽ cố nhiên những đảng viên đang điều hành các doanh nghiệp đó, nếu thấy có lời thì họ sẽ bỏ vốn vào để làm chủ, và phần còn lại thì các công ty ngoại quốc sẽ vào đầu tư, may ra thì Việt Nam thoát được cảnh thất nghiệp hàng loạt. Thấy rõ chỉ có 2 thành phần được lợi trong kế hoạch này là Đảng Viên làm kinh tế tư nhân và các nhà Đầu Tư ngoại quốc.

Dù nghiêm khắc tới mấy, thì cũng nên có cái nhìn chính xác về việc Cộng Đảng đang từng bước buộc phải giảm bớt quyền hành về mặt kinh tế, với hy vọng đặt vào việc các đảng viên làm kinh tế tư nhân sẽ biến Đảng thành một tập đoàn Tài Phiệt Man Rợ Cầm Quyền lâu dài, giống như cha con ông Lý Quang Diệu và Lý Hiển Long của tiểu quốc Singapore. Nhưng Singapore là một thành phố cảng đa sắc dân, họ chỉ có mục tiêu được thoải mái làm ăn giầu có. Chính quyền của họ Lý đã đáp ứng được nhu cầu của dân ở đây. Họ hoàn toàn khác với Việt Nam là một dân tộc có truyền thống Văn Hóa cá biệt, với tinh thần Độc Lập Tự Chủ cực mạnh. Nay thì truyền thống Văn Hóa Việt và tinh thần Tự Do Tự Chủ nơi người dân đang sôi sục bùng phát, qua Phong Trào Đòi Tự Do Dân Chủ của toàn dân trong và ngoài nước. Nếu Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Tấn Dũng không nắm vững được Lòng Dân thì dù đang có Thế Nước trong tay, cũng chẳng làm nên đại sự.

Little Saigon ngày 30-01-2007 .

Lý Đại Nguyên

Dù là thành phần cộng sản bảo thủ cực đoan, hay những người quốc gia chân chính, không chấp nhận sự hiện hữu của chính quyền độc đảng độc tài cộng sản, thì cũng không thể phủ nhận được việc Việtnam đã thực sự phải hội nhập sinh hoạt kinh tế toàn cầu, và quan hệ ngoại giao của Việtnam đang mở rộng ra với mọi quốc gia. Vì Việt Nam đã chính thức trở nên thành viên của Tổ Chức WTO, và Tổng Thống Bush của Hoa Kỳ đã chính thức đến Việt Nam, đánh dấu sự kiện một nước cựu thù lớn nhất của Việt Cộng đã tăng cường liên hệ đầy đủ toàn diện, đặc biệt là vấn đề quan hệ quốc phòng và viện trợ quân sự cho Việt Nam. Thế nên, việc Nguyễn Tấn Dũng thủ tướng CSVN tới Vatican gặp Giáo Hoàng Bênêdictô để tiến hành việc thiết lập bang giao với Triều Đình Vatican trong tư cách 2 nước, thì đó là việc tự nhiên. Nhưng Vatican ngoài tính cách Triều Đình của một Quốc Gia lại còn là một Tòa Thánh của Kitô Giáo Hoàn Vũ, có 7 triệu tín đồ trung thành đang là công dân của Việt Nam, và cùng là nạn nhân của chế độ cộng sản như các tôn giáo khác ở Việt Nam. Đó mới là vấn đề nhức nhối cho tín hữu Kitô giáo Việt Nam, và khó xử đối với Giáo Hội Lamã.
Bởi thế một số linh mục, tu sĩ, giáo dân Việt Nam trong và ngoài nước, sống theo tinh thần của Cố Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền, vị mục tử đã tử vì đạo dưới chế độ Cộng Sản Việt Nam năm1988 đã trình Thỉnh Nguyện Thư lên Giáo Hoàng Bênêdictô XVI, nêu rõ việc chế độ Cộng Sản Việt Nam đang còn đàn áp các tôn giáo bạn, như: 1- Giáo Hội Tin Lành Mennonite. Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy. Không chịu thừa nhận 20 Ban Đại Diện của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và quản chế 2 vị lãnh đạo tối cao của Giáo Hội là Hòa Thượng Huyền Quang, và Hòa Thượng Quảng Độ hàng mấy chục năm nay. 2- Nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam đã lập lại quyết tâm khống chế và công cụ hóa các Tôn Giáo qua Pháp Lệnh Tín Ngưỡng Tôn Giáo ngày 18/06/2004, và Nghị Định 22/CP ngày 01/03/2005. 3- Đảng và nhà cầm quyền cộng sản độc tài Việt Nam đang tước hết mọi Nhân Quyền và Dân Quyền, khiến toàn dân chưa có một cuộc bầu cử tự do công bằng nào suốt 60 năm qua. Làm hàng triệu người phải bỏ nước ra đi, 83 triệu người đang phải sống cảnh đói nghèo bất công, chịu đựng các tệ nạn gian manh, cửa quyền, tham nhũng, bóc lột của đảng viên và cán bộ cộng sản. 4- Xin Giáo Hoàng dùng Ánh Sáng Tin Mừng, ánh sáng Công Lý và Tình Thương rọi chiếu vào bóng tối bạo lực, bất công, gian trá, hận thù đang ngự trị trên đất nước Việt Nam, để Tổ Quốc Việt Nam sớm có đầy đủ Tự Do, Dân Chủ như hầu hết các nước văn minh trên toàn cầu. Mong ước Tòa Thánh chỉ bang giao cùng nhà cầm quyền cộng sản Việtnam với một trong các mục đích chính là tạo áp lực để cộng sản từ bỏ độc tài toàn trị, và trả lại mọi Nhân Quyền và Dân Quyền cơ bản cho các Giáo Hội và các Công Dân Việtnam.

Thỉnh nguyện thư trên đây là lời tâm huyết, chí tình, chí chính của một số linh mục, tu sĩ, giáo dân Kitô giáo trong và ngoài nước. Nói lên rằng: Những tập thể Giáo Dân Kitô đã thấy rõ được âm mưu của Cộng Sản Việt Nam đang sử dụng chính sách gây chia rẽ, hận thù lâu dài giữa các Tôn Giáo trong Cộng Đồng Dân Tộc Việt Nam. Thiết lập bang giao với Giáo Triều Vatican của Kitô Giáo Hoàn Vũ để lấy lòng Âuchâu và Thếgiới, nhưng vẫn đàn áp các Tôn Giáo Truyền Thống Dân Tộc. Đồng thời dùng Pháp Lệnh Tín Ngưỡng Tôn Giáo buộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và Giáo Dân Kitô trong nước phải nằm trong chế độ “xin cho” trực thuộc Mặt Trận Tổ Quốc, một tổ chức ngoại vi của Cộng Đảng. Đây cũng là sự nhắc nhở đối với những Người Việt đang là công dân của những nước có quan hệ đối với Việt Nam, hãy dùng tư cách công dân của mình ở những nước đó, thường xuyên lên tiếng nhắc nhở với Chính Quyền, Chính Khách, và Dư Luận rằng: Việt Nam dù đã hội nhập với thế giới, nhưng chính quyền ở đó vẫn là thứ “ngụy quyền” tiếm đoạt quyền lãnh đạo của Quốc Dân. Chúng đang dùng dân Việt Nam làm thứ “con tin” để yêu sách, trả giá với thế giới.

Nhân đây xin làm rõ thêm một vài vướng mắc trong sinh hoạt đấu tranh của Người Việtnam trong và ngoài nước. Những ngày gần đây rất nhiều bài viết, bài nói, lên án kẻ này là cò mồi cho cộng sản, người kia là cộng sản nằm vùng, hoặc là đấu tranh dân chủ cuội v.v..Làm chính trị có viễn kiến, thì đa nghi, đề phòng là điều không thể trách. Nhưng nếu lại rơi vào kế hoạch “tung hỏa mù” gây chia rẽ. làm nản lòng những người nhiệt tình đấu tranh là một việc làm bất trí, phi chính trị. Chúng ta đừng quên: Việt Nam đang trong giai đoạn đấu tranh chính trị tranh đòi tự do dân chủ, chứ không phải là hoàn cảnh lựa chọn gia nhập các lực lượng cách mạng để đoạt chính quyền, hay là phải bỏ phiếu lựa chọn những người đại diện của mình trong chính quyền. Chính vì vậy, mà chúng ta không những phải hoan nghênh, mà xin bằng cách này hay cách khác hỗ trợ cho những người dám công khai đứng lên đấu tranh đòi Tự Do Dân Chủ ở trong nước. Không phân biệt, không cần biết tới quá khứ của họ là gì, miễn là trong lời nói, việc làm của họ hiện tại, ngay bây giờ, quyết không nhận và chống lại chế độ độc tài, độc đảng, tham nhũng, toàn trị cộng sản.

Trong cuộc đấu tranh này, kẻ nguy hiểm nhất đối với Cộng Đảng là kẻ “Nội Thù”. Tức là chính “Cộng chống Cộng”. Kinh nghiệm dậy rằng: Chưa có một lực lượng nào từ ngoài vào lật đổ nổi chế cộng sản ở bất cứ nơi đâu, mà chỉ có những cuộc nổ tung trong nội bộ chế độ cộng sản mà ra. Liên Xô sụp đổ không chỉ do Gorbachev đổi mới, mà chính là nhờ bọn Cộng Sản cực đoan làm chính biến bất thành, đưa đến việc Gorbachev giải thể Cộng Đảng. Khối Cộng Đông Âu tan vỡ. Rồi Yeltsin Dân Chủ Hóa nước Nga. Tất cả bọn họ đều là lãnh tụ cộng đảng cả. Nếu Gorbachev đổi mới thành công thì Liên Bang Sô Viết lỏng lẻo và chế độ Cộng Sản Quốc Tế, cũng sẽ như Trung Cộng, Việt Cộng hiện nay: Cộng đảng vẫn lãnh đạo. Dù nội dung là tư bản, nhưng hình thức vẫn là cộng sản. Như vậy Thế Giới Cộng Sản vẫn hiện diện trên hoàn vũ. Tại Việt Nam hiện nay, may là có cuộc đấu tranh cho Tự Do Tôn Giáo dài hơi, chịu đựng gian khổ trên 31 năm, giờ đây đã làm xuất hiện những người, những đoàn thể chính trị công khai đấu tranh cho Dân Chủ, để Việt Cộng không thể một mình một chợ thao túng chính trường Việt Nam được nữa. Nhất là sự xuất hiện đó, đúng với đòi hỏi của các nước Dân Chủ trên thế giới. Đây là điều đáng được trân quý. Xin đừng vì một lý do nào, mà làm cho Cuộc Đấu Tranh Dân Chủ tại Việt Nam, vừa mới chớm nở đã bị nhận chìm. Không gì tốt hơn việc Cộng Sản chống Cộng Sản để Toàn Dân có cơ hội tiến lên xây dựng Tự Do Dân Chủ cho Việt Nam.

Little Saigon ngày 23-01-2007.

Lý Ðại Nguyên

Thấy rõ chủ trương của Hoa Kỳ hiện nay là quyết nhập nội Việt Nam cho bằng được, nên chính quyền Bush đã tích cực mở cửa để Việt Nam gia nhập WTO. Lưỡng viện Quốc Hội Mỹ vào phút cuối cùng của phiên họp hết nhiệm kỳ, đã không quên dành cho Việt Nam quy chế Thương Mại Bình Thường Vĩnh Viễn –PNTR-. Nhất là khi Tổng Thống Bush đến phó hội APEC tại Hànội, nhân dịp có mặt của Hồ Cẩm Ðào, Tầu và Putin, Nga là "chủ cũ" của Cộng Sản Việt Nam, cùng các Nguyên Thủ trong vùng Á Châu Thái Bình Dương, để xác nhận vai trò kinh tế, xác lập vị thế chiến lược mới của Mỹ tại Việt Nam. Tổng Thống Bush và Ngoại Trưởng Rice đã hào phóng đem tặng cho nhà cầm quyền Hànội món quà là: Rút tên Việt Nam khỏi danh sách các nước cần "quan tâm đặc biệt" về vấn đề Tự Do Tôn Giáo -CPC-. Ðiều đó đã làm cho các người tranh đấu cho Tự Do Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam ngao ngán, các tổ chức Phi Chính Phủ - NGO- khắp thế giới phản đối. Trong khi, nhà cầm quyền Hànội chẳng những không cho tổ chức Hội Nghị Quốc Tế Dân Sự bên lề, quy tụ các tổ chức Xã Hội Dân Sự trong vùng, giống như thông lệ của APEC, mà lại xuống tay đàn áp, cô lập các người đấu tranh và các tổ chức đối lập Việt Nam, không để giới truyền thông và chính khách quốc tế gặp gỡ họ.
Với quán tính nô lệ cho các thế lực quốc tế, nhóm lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam cho là Mỹ đã chọn họ làm tay sai, nên bỏ rơi những nhà đòi hỏi Tự Do Tôn Giáo và những người đấu tranh cho Tự Do Dân Chủ Việt Nam, buộc ông Michael Marine, Ðại Sứ Mỹ tại Hanội, người thực thi chính sách Ngoại Giao của Hoa Kỳ tại Việt Nam, ngày 13/12/06, đã phải lên tiếng kêu gọi Ðảng và Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam hãy mở rộng thêm không gian cho những người bất đồng quan điểm. Ông chính thức gọi thành viên của Khối 8406 là "những người yêu nước thực sự". Vì "Niềm tin của họ mạnh đến mức họ dám nói ra công khai. Tôi nghĩ họ là người yêu nước thực sự. Họ muốn điều tốt đẹp nhất cho Việt Nam". Ông nói thêm: "Sự phát triển của dân chủ, theo nhịp độ mà Việt Nam thấy sẵn sàng và người Việt Nam muốn là điều mà chúng tôi ủng hộ". "Tôi nghĩ sẽ có lợi cho Việt Nam thông qua việc cho phép có thêm tự do bày bỏ, tự do lập hội". Ông kết luận: "Ðể bất kỳ chính phủ nào được hoạt động tốt, người ta cần những công dân có khả năng biønh luận về chính sách và hành vi của chính phủ đó". Ngày 14/12/06, tại Hoa Thịnh Ðốn, Ngoại Trưởng Condoleezza Rice đã loan báo thành lập quỹ khẩn cấp 1 triệu USD, nhằm chi trả những tốn kém ngắn hạn cho những người chấp nhận nguy hiểm để bảo vệ Nhân Quyền tại các nước bị độc tài đàn áp. Ở đây, Ngoại Trưởng Rice tái xác định mục tiêu và mong đợi của Mỹ về cách đối xử của quốc tế với các tổ chức Ðối Lập đòi Dân Chủ và Nhân Quyền. Các tổ chức ngoài chính phủ - NGO –đó, cần phải được tự do hoạt động theo luật quốc tế.

Ðến đây cho thấy, Mỹ quyết trở lại Việt Nam lần này bằng bước đi vững chắc của đôi chân: Kinh Tế Thị Trường Hóa Toàn Cầu và Chính Trị Dân Chủ Hóa Việt Nam. Ðiểm đó đã nhận được sự đồng thuận, tích cực ủng hộ của các tổ chức và các nước cấp viện cho Việt Nam họp tại Hànội, là đã chỉ trích nặng nề nạn Tham Nhũng và vi phạm Nhân Quyền của chính phủ Hànội. Nhưng vào ngày 15/12/06, kết thúc hội nghị hàng năm của Nhóm Tư Vấn các nhà tài trợ, đã gia tăng viện trợ cho Việt Nam từ 3 tỷ 700 triệu USD của năm 2006, lên tới con số 4 tỷ 445 triệu USD cho năm 2007. Nhằm giúp Việt Nam phát triển kinh tế xóa đói giảm nghèo. Ðiều làm mọi người ngạc nhiên là việc loan báo tăng viện trợ lại được thực hiện sau khi đất nước này bị rúng động về vụ tham nhũng lớn PMU 18, trong lãnh vực xây dựng cơ bản, mà phần lớn là tiền tín dụng của ngoại quốc. Ngân Hàng Thế Giới –WB- đã mở cuộc điều tra riêng song song với cuộc điều tra của Nhà Nước Việt Nam, hiện chưa kết thúc. Dù vậy, WB năm nay hứa viện trợ cho Việt Nam 980 triệu USD. Ngân Hàng Phát triển Á Châu viện trợ gấp đôi năm trước với số hứa 1 tỷ 100 triệu USD. Liên Âu tăng đôi chút với con số 948 triệu USD. Nhật Bản là một nước cam kết viện trợ lớn nhất lên tới 890 triệu USD. Ông Klaus Rohland Giám Ðốc Quốc Gia của Ngân Hàng Thế Giới tại Việt Nam thay mặt các nhà tài trợ tỏ ý tán thưởng nỗ lực của Việt Nam trong việc cải thiện môi trường đầu tư, nhưng nói thêm rằng: "Việt Nam cần hiện đại hóa nền kinh tế để tiến xa hơn trong việc gia nhập Tổ Chức Thương Maị Thế Giới – WTO". Theo ông Rohland: "Việt Nam cần nhanh chóng hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, thể chế và việc quản lý vốn viện trợ phát triển có hiệu quả hơn". Và "Việt Nam cần nhanh chóng hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, thể chế và việc quản lý vốn viện trợ phát triển, đặc biệt là phải kiên quyết hơn trong công tác chống tham nhũng đối với việc sử dụng nguồn vốn ODA".

Ðúng là Mỹ đang sử dụng vốn đầu tư khổng lồ vào Việt Nam, các Tổ Chức và các nước Cấp Viện cho Việt Nam củng dùng tiền Viện Trợ của họ buộc Viiệt Nam phải thay đổi thể chế, pháp lý, chống tham nhũng, tôn trọng nhân quyền để từng bước Thị Trường Hóa Kinh Tế, Tự Do Hóa xã hội, Dân Chủ Hóa chế độ. Hiện nay theo sự điều tra của một cơ quan kinh tế độc lập có tên là Economist Intelligence Unit, vừa công bố báo cáo về Chỉ Số Dân Chủ 2006, được nghiên cứu trên toàn cầu thì Việt Nam đươc xếp vị trí 145/167 nước được khảo sát về tiønh hình Dân Chủ. Như vậy Việt Nam đang nằm trong nhóm chế độ độc tài, nếu muốn thoát ra khỏi Thân Phận Nước Nhược Tiểu thì phải gấp rút Dân Chủ Hóa chế độ. Việc đầu tiên là phải mở rộng không gian cho những người bất đồng quan điểm, chính kiến sinh hoạt, chấp nhận các tổ chức Ðối Lập công khai, với việc để cho Báo Chí, Truyền Thông Tư Nhân xuất hiện, góp sức quét sạch Quốc Nạn Tham Nhũng, huy động Tinh Thần Ðộc Lập Dân Tộc để Toàn Dân phát huy nội lực quốc gia, chủ động gia nhập tiến triønh Toàn Cầu Hóa. Ðừng để phát ngôn viên Ngoại Giao phản ứng chày cối về lời phát biểu của ông Ðại Sứ Mỹ tại Hànội. Rằng: "Những nhân vật đối lập trong nước bị công an bắt giữ vì họ vi phạm luật pháp Việt Nam, chứ không phải là những nhà ái quốc như cách diễn tả của ông Marine".Cả nhân loại đều hiểu thứ gọi là luật pháp của thế giới Cộng Sản là loại luật pháp áp đặt từ ý chí độc tài độc đoán của đảng, nhằm phục vụ đảng, bảo vệ quyền lãnh đạo tuyệt đối của đảng đối với toàn dân. Nó không nhằm bảo vệ quyền lợi phẩm giá của người dân. Nó đã nói thật rõ qua khẩu hiệu giáo điều của Cộng Ðảng Việt Nam là: Ðảng Lãnh Ðạo, Nhà Nước Quản Lý, Nhân Dân làm Chó. Ở đây không phải là viết sai chữ "Chủ thành Chó", mà chỉ muốn nói lên cho thật đúng với vai trò của người dân theo Cộng Ðảng chủ trương. Vì chỉ có loài chó mới tuyệt đối trung thành với người nuôi dậy của nó, dù có đánh đập, chửi mắng, tàn nhẫn, bỏ đói, thì nó vẫn trung thành với người đó. Hơn 60 năm nay Cộng Ðảng đối với Nhân Dân, mà họ gọi là "Chủ" đâu có khác giø đối với bầy chó mà họ đã thuần hóa. Nhưng nay thì Toàn Dân Việt Nam đã tỉnh thức, quyết đòi lại vị thế "Chủ Nhân" đích thực của mình, và đang được toàn thế giới tiếp tay. Nhà cầm quyền Hànội phải hiểu ra điều đó.

Little Saigon 19/12/2006.


MỸ CÓ THỂ ÐƯA VIỆT NAM
TRỞ LẠI DANH SÁCH CPC NGAY

Lý Ðại Nguyên

Tại Quốc Hội Hoa Kỳ ngày 22/12/2006, đã diễn ra cuộc điều trần về tình hình tự do tôn giáo trên thế giới, do dân biểu Christopher Smith, phó chủ tịch ủy ban quan hệ quốc tế của Hạ Viện chủ trì, có sự tham dự của ông Stephen Liston, giám đốc phòng Tự Do Tôn Giáo của bộ ngoại giao Hoa Kỳ và bà Felice Gear đứng đầu ủy ban Hoa Kỳ về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế, một cơ quan độc lập có nhiệm vụ thẩm định tiønh hình tự do tư tưởng và tín ngưỡng trên thế giới. Theo bà Gear thì tuy Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ về tự do tôn giáo, nhưng vẫn chưa đủ để xứng đáng rút tên ra khỏi danh sách CPC ‘cần quan tậm đặc biệt’. Bà cho biết: "Theo sự thẩm định của ủy ban chúng tôi, những luật lệ mới về tôn giáo chưa được thực thi đầy đủ, và trong một số trường hợp, những luật lệ này lại được dùng để hạn chế và khống chế tự do của người dân, thay vì bảo vệ họ. Chúng tôi nghĩ rằng, việc giữ tên Việt Nam trong danh sách CPC sẽ chứng tỏ cho họ thấy rằng, mối quan tâm về nhân quyền vẫn là một trong những ưu tiên hàng đầu của Hoa Kỳ. Ðiều đó sẽ tiếp tục góp phần thúc đẩy chính phủ Việtnam giải quyết mối quan tâm của Hoa Kỳ".

Ông Stephen Liston cũng thừa nhận rằng, tình hình tôn giáo ở Việtnam chưa phải là hoàn hảo, nhưng Washington cũng cần phải có sự tưởng thưởng cho những nước đã có tiến bộ. Ông nói: "Việc loại tên Việtnam khỏi danh sách CPC, không có nghĩa là đã đạt được tất cả những mục tiêu về tự do tôn giáo. Tuy nhiên, chính phủ Việtnam đã giải quyết những vấn đề cốt lõi từng tạo ra những vụ vi phạm nghiêm trọng về tự do tôn giáo. Quyết định không giữ tên Việtnam trong danh sách CPC chính là tín hiệu quan trọng để cho mọi người thấy rằng , mục tiêu của chúng ta là cải thiện môi trường hành đạo của các tín đồ tôn giáo, và khi nào có tiến bộ thì chúng ta sẽ công nhận là có tiến bộ". Ðể trả lời dân biểu Chris Smith, chủ triø cuộc điều trần về câu hỏi: "Nếu Việtnam tiếp tục gây khó dễ cho người theo đạo, không hoàn tất những cam kết đã ký kết với Hoa Kỳ, thì bộ ngoại giao có liệt kê trở lại danh sách CPC không?". Ông Stephen Liston trả lời: "Luật cho phép ngoại trưởng làm điều đó. Việc bị nêu tên trở lại danh sách CPC có thể xẩy ra ngay, chứ không cần đợi tới hết năm 2007, nếu như có bằng chứng rõ rệt về tình trạng tôn giáo ở Việtnam bị đàn áp". Xem vậy, việc lấy tên ra hay để tên Việtnam vào danh sách CPC chỉ là một trong những áp lực giai đoạn của Mỹ, nhằm buộc nhà cầm quyền Cộng Sản Việtnam phải tôn trọng những cam kết đã ký với Mỹ. Ðây cũng là biện pháp đối trị với những thủ đoạn lươn lẹo, che chắn, dối trá của Việtcộng.

Trong khi truyền thông chính thức của cộng sản Việt Nam loan tin đã cấp giấy phép hoạt động cho 2 giáo hội Tin Lành là, Cơ Ðốc Phục Lâm, và Báp Tít Việtnam, được pháp luật bảo vệ mọi quyền lợi chính đáng, được chính quyền tạo điều kiện trong các sinh hoạt tôn giáo của tín đồ, trong các hoạt động khác như in ấn, xuất bản kinh sách, xây dựng sửa chữa nơi thờ tự hoặc hội thảo, bồi linh, hiệp nguyện, thì công an lại gia tăng đàn áp giáo hội Tin Lành Mennonite trong dịp lê Giáng Sinh này. Có nghĩa là nhóm tôn giáo nào ngoan ngoãn đứng xếp hàng dưới quyền lãnh đạo của đảng, chịu đứng trong tư thế hiệp hội thuộc Mặt Trận Tổ Quốc và tuân thủ Pháp Lệnh Tin Ngưỡng Tôn Giáo "xin cho" của nhà nước Cộng Sản thì sẽ được cho sinh hoạt hợp pháp. Còn những tôn giáo dân lập luôn luôn giữ tư thế độc lập với chính quyền thì hãy đợi đấy!

Thực ra những thứ gọi là Hiến Pháp, Luật Pháp của nhà nước Cộng Sản Việtnam đối với nguyên tắc "Quyền lực Quốc Gia thuộc về Ý Chí của Toàn Dân" thì những thứ ấy đều là phi pháp, cưỡng từ, đoạt lý, cướp quyền công dân một cách trắng trợn. Một loại Quốc Hội bù nhìn do "đảng cử dân bầu" tạo ra một bản Hiến Pháp 1992, ở Ðiều 4, trao quyền lãnh đạo tuyệt đối cho đảng Cộng Sản, mà không chịu bất cứ thứ trách nhiệm nào, không bị chế tài bởi cơ quan nào, không thông qua trưng cầu dân ý. Thế rồi những điều khoản quan trọng về dân quyền như Ðiều 69: "Công dân có quyền tự do ngôn luận báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tiønh theo quy định của luật pháp". Mới nhìn thì đúng là hiến pháp tôn trọng dân quyền, nhưng nếu để ý tới câu thòng "theo quy định của luật pháp" thì thấy ngay Hiến Pháp đã nhường quyền quyết định tối hậu về những quyền nêu trên cho Luật Pháp. Như vậy Luật Pháp leo lên đầu Hiến Pháp. Chưa hết, luật được Quốc Hội biểu quyết, Chủ Tịch Nước ban hành, nhưng chưa có văn thư hướng dẫn của chính phủ thì cũng cứ nằm đợi đấy. Còn thủ tướng chính phủ phải chờ quyết định của Bộ Chính Trị có cho áp dụng không thì mới ban hành văn thư hướng dẫn. Như vậy rõ ràng Bộ Chính Trị ngồi trên Hiến Pháp, Luật Pháp và Chính Phủ. Một cơ chế quay vòng vòng như vậy thì quốc gia làm gì có Luật Lệ Công Khai Trong Sáng. Chính vì vậy mà Hòa Thượng Quảng Ðộ lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất dân lập đã đưa ra một nhận định chính xác là: "Pháp Nạn của Giáo Hội nằm trong Quốc Nạn của Dân Tộc. Chừng nào quốc nạn chấm dứt thì pháp nạn mới chấp dứt". Bởi vậy, với tư cách một Giáo Hội Dân Lập đã có Hai Ngàn Năm tồn tại trong lòng dân tộc, được tuyệt đại dân chúng tín ngưỡng thì mắc mờ gì phải vội vàng cúi đầu chấp nhận thứ Pháp Lệnh Xin Cho của Việt Cộng.

Ðúng ra các tôn giáo chân chính tồn tại hàng ngàn năm, đâu có đặt sự tồn tại của miønh ở nơi công nhận hay không của thế quyền, mà đặt ở sự tín ngưỡng của dân chúng. Chính vì dân chúng của toàn dân Âu Châu cùng tín ngưỡng Ðạo Thiên Chúa, nên Hoàng Ðế Constantine The Great của Ðế Quốc Lamã, năm 314 chính thức công nhận Thiên Chúa Giáo là Công Giáo của toàn Ðế Quốc. Chính vì vậy mà khi Hồi Giáo phát triển vào Âu Châu đã dẫn tới cuộc thánh chiến kéo dài mấy thế kỷ, đến nay thù oán vẫn cón bám riết 2 tôn giáo cùng thờ Chúa Trời này. Khi Thực Dân cai trị Việtnam họ cũng theo truyền thống Ðế Quốc Lamã, chỉ nhận Thiên Chúa Giáo là Công Giáo còn các tôn giáo khác kể cả Phật Giáo đều là Hiệp Hội. Bởi đấy, mới có cuộc đấu tranh "Biønh Ðẳng Tôn Giáo" ở Việtnam 1963. Năm 1964 các tôn giáo tại Việtnam Cộng Hòa đều được chế độ công nhận là các tôn giáo có tư cách pháp nhân. Do nạn kỳ thị tôn giáo mới đặt ra tính cách pháp lý đối với các tôn giáo, còn theo văn hóa sử nhân loại thì Giáo Quyền và Thế Quyền là hai nhu cầu không thể thiếu được của loài người, hai thứ quyền lực đó phải độc lập với nhau hỗ tương cho nhau để tạo ra cuộc sống người yên vui phát triển. Nếu Giáo Quyền khống chế Thế Quyền hay ngược lại thì xã hội sẽ loạn, lịch sử bế tắc. Chính vì nắm vững nguyên lý đó, nên Hoa Kỳ năm 1791 đã công bố Tu Chính Án Số I. Rằng: "Quốc Hội sẽ không được làm luật thành lập tổ chức tôn giáo, hoặc để cấm đoán quyền tự do tôn giáo; hay giới hạn quyền tự do ngôn luận, hoặc báo chí; hay quyền tụ họp của người dân một cách ôn hòa bất bạo động, và quyền thỉnh nguyên lên chính quyền để khiếu nại về những việc cần được chính quyền làm sáng tỏ". Những nước kết giao toàn diện với Mỹ, mà không hiểu biết về Tu Chính Án Số I này, thì sẽ gặp khó khăn dài dài với Quốc Hội và Dư Luận Mỹ.

Little Saigon 26/12/2006.

Lý Đại Nguyên

Nguyễn Tấn Dũng thủ tướng CSVN dựa theo thông báo 41 của Bộ Chính Tri ngày 11/10/2006, về các biện pháp tăng cường lãnh đạo và quản lý báo chí, đã ra chỉ thị số 37, ngày 29/11/2006, được đăng trên trang nhà của chính phủ, rằng: “Việt Nam sẽ không cho phép thực hiện công cuộc tư nhân hóa truyền thông dưới bất cứ hình thức nào, và sẽ không để ai lợi dụng báo chí để phục vụ lợi ích riêng tư, gây phương hại cho lợi ích nhà nước”. Dũng yêu cầu các cơ quan chính phủ tăng cường nỗ lực nhằm kiểm tra hoạt động của nhật báo, tạp chí, đài truyền hình và địa điểm internet và trừng phạt những người vi phạm pháp luật. Những năm gần đây tuy Việt Nam đã tư nhân hóa nhiều công ty quốc doanh, nhưng chính phủ vẫn tiếp tục nắm quyền kiểm soát các phương tiện truyền thông, gồm trên năm trăm tờ báo và gần chục ngàn ký giả.

Có một lực lượng báo chí khổng lồ trong tay, mà Cộng Đảng lại tỏ ra sợ hãi không dám cho tư nhân ra báo thì đủ biết Cộng Đảng thực sự rất sợ Tự Do Ngôn Luận, và không còn dám tin vào sự trung thành của các tờ báo của đảng nữa. Nhưng thử hỏi cộng sản còn đủ sức khống chế được dư luận bao lâu? Khi nguồn thông tin tự do theo gót của các đại công ty nước ngoài ào ạt đổ vào Việt Nam. Với việc, Nguyễn Tấn Dũng sớm mở cửa cho doanh nhân ngoại quốc đầu tư vào các ngành dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, bán lẻ, viễn thông tai Việt Nam. Đối với doanh nhân ngoại quốc thì mọi dịch vụ phải được bảo đảm bởi luật lệ trong sáng, và tự do thông tin, minh bạch, nhằm tao ra môi trường cạnh tranh công bằng. Nhất là các công ty sản xuất Computer đã lấy Việt Nam làm cứ địa phái triển thị trường điện toán cho toàn vùng. Chắc chắn số người sử dụng phương tiện thông tin kỹ thuật cao và rẻ này sẽ tràn ngập Việt Nam ở ngày tới, nhất là trong giới trẻ. Lúc đó các luồng xa lộ thông tin Việt Ngữ trong, ngoài nước giao thoa với nhau, từng giây, từng phút, không còn bị giới hạn bởi các địa điểm internet như hiện nay. Những tư tưởng Tự Do Dân Chủ, các phương pháp ứng xử khoa học và sinh hoạt năng động tiên tiến của thị trường tự do sẽ được chiếu rọi vào thực tại sinh hoạt Việt Nam, tao ra sự so sánh giữa lê thói độc tài thủ cựu ngây ngô, trước trào lưu thăng hóa rực rỡ của loài người, hẳn nhiên toàn dân và giới trẻ có nhu cầu tự do phát triển toàn diện, vượt bỏ thứ cộng sản biến chất thành tư bản man rợ, muốn nắm độc quyền chính trị.

Thật đáng buồn cho giới lãnh đạo tương đối trẻ của cộng đảng hiện nay, họ vẫn chưa trở thành những nhà chính trị có viễn kiến. Nếu chỉ với một chút viễn kiến trung bình thôi thì họ đã thấy rằng: Khi Việt Nam vào WTO thì không chỉ về mặt kinh tế, Việt Nam phải chuẩn bị cho các doanh nhân của mình, có điều kiện tự do chủ động phát triển, để cạnh tranh với nhau và với thế giới, mà về mặt xã hội cần phải tạo ra một môi trường và không khí tự do phóng khoáng, qua các phương tiện thông tin đại chúng. Để được vậy thông tin cần phải có nhiều luồng, nhiều khuynh hướng để cho dại chúng, tự do lựa chọn. Cũng như thị trường cần có nhiều mặt hàng để cho người tiêu thụ mua sắm. Nếu nhà nước cần có tiếng nói để bảo vệ chủ trương chính sách của mình, thì vẫn có thể duy trì một hệ thống thông tin cho riêng mình. Chứ không thể giữ mãi độc quyền thông tin như hiện nay. Phải để cho Tư Nhân Tự Do ra báo. Thật cũng khó cho cộng đảng vốn không có quan niệm thông tin trong sáng rộng mở, mà chỉ có quan niệm và chủ trương tuyên truyền dối trá. Việc Nguyễn Tấn Dủng ra chỉ thị 37 thì đó là hành động vô chính trị. Trái với những ý tốt đẹp mà doanh nhân quốc tế dành cho Dũng. Nhất là trong khi đó Dũng còn được đảng trao cho chức vụ cầm đầu ủy ban Chống Tham Nhũng của Nhà Nước và Đảng. Đây là cơ hội cho Dũng chứng tỏ khả năng lãnh đạo của mình, ở thời điểm Việt Nam chuyển mình đi lên. Nhưng Dũng đã bỏ lỡ cơ hội, tự mình bôi mặt làm hề, trình diễn đúng vai tuồng “tên đao phủ’ của nền Tự Do Báo Chí trước dư luận thế giới, bởi cái Chỉ Thị 37 mắc toi kia.

Kinh nghiệm dậy rằng: Những vụ tham nhũng được đưa ra ánh sáng từ trước tới nay, đều có bàn tay của báo chí. Tin tức từ vụ cầu thủ Việt Nam bán độ tại Sea Games 23 năm 2005, đã dẫn tới vụ Bùi Tiến Dũng chơi cá độ lên tới bạc triệu USD, rồi thành vụ tham nhũng khổng lồ PMU-18 trong bộ Giao Thông Vận Tài, làm sụp đổ hoàn toàn uy tín của đảng và chính phủ. Nguyễn Tấn Dũng khi mới lên nhận chức đã tuyên bố hung hăng là phải mau cho đưa vụ PMU 18 ra trước pháp luật, nhưng đến nay vẫn chưa nhúc nhích. Bởi vì nhà nước đã cấm báo chí không đựơc nói tới nữa. Nay với cái chỉ thị 37, Nguyễn Tấn Dũng, mặc nhiên đã trở thành kẻ cầm đầu Hệ Thống Chống Tham Nhũng “Cuội”. Tức là những màn chống tham nhũng, nếu có, cũng chỉ là do sự dàn dựng, nhằm hạ bệ, những kẻ không cùng phe cánh. Hoặc là những con dê đi lạc bị đem ra tế thần. Buộc tính đa nghi của người dân đã bị lừa dối lâu ngày phải nghĩ rằng: Tiền tài từ tay bọn Tham Nhũng rồi sẽ chui sang túi các quan Chống Tham Nhũng.

Xin nhớ cho rằng: Khắc tinh của Tham Nhũng là Tự Do Ngôn Luận. Nơi nào nền tự do ngôn luận bị nhà cầm quyền khống chế, nơi đó Tham Nhũng tự do tung hoành. Tham Nhũng là bản chất tham lam của kẻ có quyền thế. Cộng Đảng độc quyền thống trị đứng trên luật pháp, nắm cả Quốc Hội lẫn Tư Pháp và Báo Chí, nên tham nhũng Việt Nam đã hết “thuốc chữa. Vậy Nguyễn Tấn Dũng muốn chống tham nhũng mà lại xiết báo chí, cấm tư nhân hóa báo chí thì đúng là việc làm đầu voi đuôi chuột. Vậy thì làm sao thị trường Việt Nam hấp dẫn được vốn đầu tư của nước ngoài nữa? Ở đây cần nhắc lại lời của Ngoại Trưởng Condoleezza Rice tuyên bố trong cuộc họp lãnh đạo APEC tại Hanội rằng: “Ngày nay có nhiều doanh nhân cảm thấy mệt mỏi và chán nản với những rủi ro về kinh tế, bởi những hành động chính trị thiếu lương tâm…Ai lai muốn kinh doanh trong một nền kinh tế có các quy định của luật pháp được thực thi một cách bất thường, hoặc không hề được thực thi. Hay ở một nơi nhà nước bị tham nhũng hoành hành…Bởi tham nhũng và thiếu pháp quyền chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế”. Xem vậy việc Cộng Đảng và Nguyễn Tấn Dúng tiêu diệt tự do ngôn luận, không những vô hiệu hóa việc chống tham nhũng, còn làm hỏng kế hoạch thu hút vốn đầu tư quốc tế nữa. `

Little Saigon 05/12/2006

Lý Đại Nguyên

Quốc Hội CSVN vừa phê chuẩn Nghị Định Thư Gia Nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới WTO, ngày 28/11/06, với 444 phiếu thuận, 3 chống, 2 trắng để được chính thức trở thành hội viên thứ 150 của tổ chức này vào ngày 28/12 năm nay. Điều đó không có gì đáng nói. Đáng nói là Nguyễn Tấn Dũng thủ tướng CSVN trình bày rõ quan điểm là: Thực hiện nghiêm chỉnh những gì đã ký kết, không những thế chính phủ sẽ không bảo lưu một số các hạn chế về mở cửa thị trường các ngành dịch vụ cơ bản như bán lẻ, ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông… Theo Nguyễn Tấn Dũng, chính phủ chủ trương không lạm dụng những hạn chế mở cửa được WTO đồng ý. Mục đích là để tránh tình trạng ỷ lại, chậm đổi mới. Sự kiện này cho thấy Việt Nam sẽ mở cửa các ngành này sớm hơn các cam kết với WTO và Hiệp Định Thương Mại Việt Mỹ. Đây là điểm son của chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đối với các ông chủ Tư Bản Mỹ và Thế Giới. Là điểm khởi đầu để Việt Nam rút ngắn lại thời gian của 12 năm bị nằm trong nền Kinh Tế Phi Thị Trường. Đúng là đảng Cộng Sản Việt Nam đang hạ quyết tâm tiến mau, tiến mạnh lên Chủ Nghĩa Tư Bản. Y như trước kia đã từng hô: Tiến mau, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Chủ Nghĩa Xã Hội vậy. Ghê quá !
Thực ra, không người Việt Nam nào không muốn triệt để và mau mau đổi mới, nhưng nếu chỉ đổi mới về một mặt Kinh Tế để làm đẹp ý các ông chủ Tư Bản ngoại quốc và có lợi cho một số đảng viên có quyền, có tiền, buộc toàn dân còn bị nhiều trói buộc bới luật lệ và thói hư tật xấu của cái cơ chế hủ bại Chủ Nghĩa Xã Hội chết tiệt hiện nay, mà phải bồng bế nhau lếch thếch, nhếch nhác để bước vào cạnh tranh trong nền Kinh Tế Thị Trường Mở Rộng thì thảm quá! Nói vậy không phải cho việc đốt giai đoạn Kinh Tế Phi Thị Trường là sai, nhưng muốn tiến mau, tiến mạnh, Tiến Vững Chắc lên Kinh Tế Thị Trường thì phải huy động được ý thức, ý chí tự do chủ động và tinh thần trách nhiệm của mỗi người dân đóng góp vào nền Kinh Tế Thị Trường Tự Do Mở Rộng. Chính quyền có nhiệm vụ tạo mọi điều kiện cho Tư Doanh Tự Do Phát Triển. Muốn vậy Nhà Nước Việt Nam phải dứt khoát với thứ chủ nghĩa Mác Lê và tư tưởng Hồ đang là gông cùm của những người cầm quyền. Can đảm viết lại bản Hiến Pháp Tự Do Dân Chủ và bỏ những luật lệ trái với Nhân Quyền. Nhất là chấp nhận những tư tưởng và chính kiến khác mình, để biết tôn trọng Đối Lập.

Chính sự Tự Do Ngôn Luận và những sinh hoạt của các Tổ Chức Xã Hội Dân Sự mới đảm bảo được tính cách Tự Do của Xã Hội. Chính các Đảng Đối Lập nhau trong Chính Trường mới đảm bảo được tính cách sinh hoạt Dân Chủ của Chế Độ. Còn những chế độ mệnh danh là Dân Chủ, tuy có 3 cơ chế Lập Pháp, Hành Pháp, Tư Pháp, mà bị đặt dưới quyền lãnh đạo độc tài cá nhân, độc tài đảng trị, hay là một Chính Quyền Liên Hiệp, không có các đảng Đối Lập Công Khai với Chính Quyền thì đó là thứ Dân Chủ Giả Hiệu. Nhân loại đã phải trả giá quá đắt cho các cuộc Cách Mạng đưa đến các chế độ độc tài bạo trị. Không may cho Việt Nam vì phải chống với Thực Dân, nên trong quá khứ đều xuất hiện các Đảng Cách Mạng Bí Mật mưu đoạt chính quyền. Đến khi Việt Minh cướp được chính quyền thì cho ra đời thứ Chính Phủ Liên Hiệp, để rồi tìm cơ hội tiêu diệt hết các đảng khác lý tưởng, thâu tóm chính quyền về tay Việt Minh. Chưa có thời nào các Chính Đảng có cơ hội Đấu Tranh Chính Trị Công Khai. Chỉ có ở vào cuối thời Đệ Nhị Cộng Hòa tại Miền Nam Việt Nam mới chớm xuất hiện trong Nghị Trường có khối Dân Biểu Đối Lập, nhưng vẫn chưa đủ sức thành Đảng Đối Lập. Chính vì vậy mà Việt Nam chưa thời nào có được một Chế Độ Dân Chủ bền vững.

Do tinh thần vô úy của những tu sĩ kiên cường vận động cho Tự Do Tôn Giáo, suốt từ ngày Cộng Sản chiếm Miền Nam không ngừng nghỉ, đã tác động, tạo cơ duyên cho các người trước đây theo cộng sản đối kháng với chế độ, và những người không cộng sản, minh danh, công khai xuất hiện. Đến nay đã trở thành phong trào dân chúng Đấu Tranh Tự Do Dân Chủ cho Việt Nam rộng khắp các mặt nhân sinh là Tự Do Tôn Giáo, Tự Do Chính Đảng, Tự Do Nghiệp Đoàn, Tự Do Ngôn Luận, tất cả đều xuất hiện công khai, minh danh, minh bạch. Tức là về phía người dân Việt Nam đã ý thức được nhu cầu phải Đấu Tranh Chính Trị Công Khai Bất Bạo Động nhằm Dân Chủ Hóa Chế Độ, bỏ lại đằng sau quan niệm Đấu Tranh Cách Mạng Bí Mật Bạo Động cướp Chính Quyền. Ở đây đánh dấu sự trưởng thành của ý thức chính trị nơi người dân Việt Nam. Nhưng tiếc rằng Cộng Đảng và nhà cầm quyền Hànội vẫn còn u mê ngoan cố, chưa biết nắm lấy cơ hội lịch sử này, êm đềm thực hiện Dân Chủ Hóa Chế Độ. Vẫn tưởng rằng có thể theo đuổi mãi chính sách của quan thầy Trung Cộng là, đảng cộng sản độc quyền chính trị để làm kinh tế thị trường, biến Cộng Đảng trở thành Công Ty Tư Bản Tài Phiệt Man Rợ hợp tác với Tư Bản Ngoại Quốc, bóc lột sức lao dộng rẻ mạt của toàn dân. Tạo ra hố cách biệt giầu nghèo quá sâu rộng trong Xã Hội. Nhân cuộc họp Thượng Đỉnh APEC, nhà cầm quyền CSVN lấy cớ giữ an ninh cho hội nghị, đã đàn áp, dùng mọi thủ đoạn thâm độc ngăn không cho Báo Chí, Chính Khách nước ngoài gặp những người đấu tranh cho dân chủ và tôn giáo, đến nay vẫn tiếp tục chưa chịu buông tha.

CSVN chưa biết rằng, khi bước vào Kinh Tế Thị Trường, với chính sách của Hoa Kỳ quyết liệt Nhập Nội Việt Nam, mau chóng đổ vốn đầu tư vào đây, nhằm biến Việt Nam thành Thị Trường có tầm cỡ ngăn nổi sự Bành Trướng của Trung Cộng ở Đông Nam Á, thì việc đầu tiên là phải mở rộng và minh bạch Thông Tin, khi đó lập tức các ý kiến, các khuynh hướng trái ngược nhau trong dân chúng xuất hiện. Nếu chính quyền vẫn chiếm độc quyền chính trị, dùng phương pháp đàn áp cấm cản như hiện nay, sẻ đẩy những người đấu tranh chính trị công khai vào thế cách mạng bí mật, nhằm khai thác những bất mãn của dân chúng về những bất công xã hội, phân cách giầu nghèo, làm thành một cuộc cách mạng dùng sức mạnh tòan dân cướp chính quyền tạo lập một chế độ mới. Nếu may mắn thời điểm đó, có được những bộ óc sáng suốt giống như các nhà lập quốc Hoa Kỳ sau khi tranh đấu dành độc lập, đã viết ra bản hiến pháp dân chủ thực sự trên thế giới, xây dựng lưỡng đảng cầm quyền và đối lập, tạo ra chế độ tự do dân chủ bền vững và luôn luôn tự hòan chỉnh, thì quả là may mắn cho dân tộc Việtnam, nếu không sẻ rơi vào tình trạng nhiểu lọan khổ đau chưa biết đến bao giờ chấm dứt.

Little Sàigòn 28-11-2006.

Lý Đại Nguyên


Đã quá rõ, Tổng Thống George W.Bush và chính quyền của ông, đã tận dụng cơ hội về sự có mặt của các nguyên thủ quốc gia Tầu, Nga, Nhật, Úc, ASEAN và các nước ven bờ Thái Bình Dương, gồm cà bạn mới, bạn cũ, lẫn đối thủ đáng gờm, trong cuộc họp Thượng Đỉnh APEC 14, để nói lên và thực hiện chính sách quyết tâm “nhập nội” Việt Nam của mình. Vì vậy, mà Chính Quyền Mỹ đã mở đường cho Việt Nam vào WTO trước khi Quốc Hội Mỹ biểu quyết cho Việt Nam hưởng quy chế Thương Mại Bình Thường Vĩnh Viễn – PNTR. Rồi sau cuộc bầu cử mà Đảng Cộng Hòa của ông Bush mất quyền kiểm soát Lưỡng Viện Quốc Hội, thì ngay trong phiên tái nhóm của Hạ Viện chưa mãn nhiệm đã đưa vấn đề PNTR cho Việt Nam ra biểu quyết với thủ tục không thảo luận, nên đã không đạt nổi túc số tuyệt đại 2/3 phiếu thuận, thế là TT Bush đến Việt Nam chỉ có món quà, rút tên Việt Nam ra khỏi danh sách các nước cần quan tâm dặc biệt về tự do tôn giáo – CPC – vốn nằm sãn trong tay Bộ Ngoại Giao.
Thế là dư luận người Việt trong, ngoài nước và những tổ chức Xã Hội Dân Sự khắp nơi trên thế giới tỏ ra ngao ngán, nghi ngờ quyết tâm Dân Chủ Hóa Toàn Cầu của TT Bush, và thấy rõ là Hoa Kỳ đặt vấn đề kinh tế lên hàng đầu. Thực trạng Việt Nam thì có 2 vấn đề nổi bật hết thuốc chữa là vi phạm Nhân Quyền và nạn Tham Nhũng. Chính tham nhũng mới là nguyên nhân làm sụp đổ chế độ. Nếu Mỹ có xem nhẹ vấn đề Nhân Quyền, mà đặt nặng vấn đề Chống Tham Nhũng, thì cội nguồn của tham nhũng là Cộng Đảng VN cũng sẽ gặp nạn. Qua bài diễn văn được trông đợi nhất trong cuộc họp của các nhà lãnh đạo APEC tại Hanội của Ngoại Trưởng Mỹ Condoleezza Rice, đọc trước các Giám Đốc Điều Hành APEC, về việc chuẩn bị cho một Thị Trường Tự Do với mối đe dọa của Nạn Tham Nhũng, tuy không gọi đích danh CSVN ra, nhưng người nghe đều hiểu là Ts Rice nhắm vào cơ chế tham ô của Việt Nam như: “Ngày càng có nhiều doanh nhân cảm thấy mệt mỏi và chán nản với những rủi ro về kinh tế, bởi những hành động chính trị thiếu lương tâm. Và lý do dẽ hiểu. Ai lại muốn kinh doanh trong một nền kinh tế có các quy định của luật pháp được thực thi một cách bất thường, hoặc không hề được thực thi. Hay ở một nơi nhà nước bị tham nhũng hoành hành. Đấy là một lãnh vực mà chúng ta cần hợp tác cùng nhau. Bởi tham nhũng và thiếu pháp quyền chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế dối với các nền kinh tế phát triển và những nền kinh tế sẵn sàng gia nhập vào hệ thống kinh tế quốc tế để đem lại lợi ích cũng như sự thịnh vượng cho toàn dân của họ” Ngoài ra Ts Rice cũng nhấn mạnh rằng: “Mở mang năng lực thương mại của Người Việt Nam là trọng tâm trong chính sách tăng cường quan hệ giữa Hànội và Washington…chính phủ Hoa Kỳ sẽ tiếp tục muốn Việt Nam có trách nhiệm về những vấn đề Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo.” Những doanh nhân Việt Nam có mặt hết sức tán thưởng về phát biểu của ngoại trưởng Rice, với hàng loạt vỗ tay.

Trong tuyên bố chung Việt Nam và Hoa Kỳ có đoạn viết: “Tổng Thống George W. Bush thông báo về Chiến Lược An Ninh Quốc Gia của Hoa Kỳ, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tôn trọng đầy đủ các quyền con người và các quyền tự do cơ bản đối với hòa bình thế giới, cũng như đối với sự phát triển ổn định của mỗi quốc gia. Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết thông báo cho Tổng Thống George W. Bush về các luật quy định mới được ban hành vế tự do tôn giáo cần được thực thi tích cực tất cả các địa phương của Việt Nam. Hai nhà lãnh đạo cũng ghi nhận tầm quan trọng của việc tiếp tục đạt tiến bộ trong đối thoại song phương về quyền con người và tái khẳng định rằng, đối thoại cần được tiến hành một cách toàn diện, xây dựng và có kết quả”. Với thứ Pháp Lệnh Tôn Giáo vừa mới ban hành tại Việt Nam, thì các tôn giáo Việt Nam vẫn bị nằm trong quy chế “xin cho” so với nền tự do tôn giáo được Tu Chính Án Số I của Hoa Kỳ, ban bố thi Washington còn phải tốn công đối thoại với Hànội cho tới ngày chế độ cộng sản tai Việt Nam biến mất trên cõi đời này mới có kết quả.

Trong 12 năm Việt Nam bị Mỹ và WTO đặt ở mức nền Kinh Tế Phi Thị Trường, thì việc giao thương của Việt Nam còn lệ thuộc vào các hiệp ước song phương, chưa được hưởng quy chế bình đẳng như các hội viên có nền Kinh Tế Thị Trường toàn diện. Ở giai đoạn này, các nhà đầu tư phải trông vào sự đảm bảo cực mạnh nơi chính quyền của họ. Trong phiên họp đầu tiên của các nhà lãnh đạo APEC, TT Bush đã ví “Việt Nam như một con Hổ trẻ” Đúng với sự đánh giá của giới tài phiệt và dư luận thế giới về một nền kinh tế năng động, phát triển đứng hàng thứ 2 sau Trung Cộng ở khu vực. Có nghĩa là ông Bush ra sức hô hào doanh nhân Mỹ bỏ vốn đầu tư vào Việt Nam, trong cơ hội vàng son này. Nhờ vậy mà ngay trong thời gian hội nghị, giới đầu tư quốc tế đã ký với Việt Nam những hợp đồng đầu tư lên tới 2 tỷ USD, trong đó Mỹ chiếm tới 1.4 tỷ USD. Việt Nam đang trở thành một môi trường cạnh tranh quyết liệt của tư bản thế giới. Thật đáng ngại, vì ở một đất nước chưa Dân Chủ Hóa, mà chính quyền lại thối nát, vô tư cách, không đặt quyền lợi toàn dân lên hàng đầu, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của tổ quốc và danh dự dân tộc có giá trị thiêng liêng, như CSVN hiện nay, thì doanh nhân nước nào bỏ vốn đầu tư vào đây nhiều, thì nước đó mặc nhiên thành ông chủ lớn trong số những ông chủ ngoại quốc. Từ lâu chính quyền CSVN đã học sách làm kinh tế của Trung Cộng, sãn sàng bán rẻ sức lao động của toàn dân để thành giầu có.Thế nên trong 12 năm Việt Nam bị nằm trong danh sách nền Kinh Tế Phi Thị Trường, mà chính quyền vẫn trong tay CSVN thì hố ngăn cách giầu nghèo trong xã hội sẽ không khác gì ở Trung Hoa hiện nay.

Đấy là mầm mống của động loạn xã hội. Vậy thì nói gì tới việc tạo thành bãi đáp an toàn cho những nhà đầu tư ngoại quốc tại Hoa Lục chuyển vốn sang thị trường Việt Nam. Nói gì đến một nền kinh tế năng động phát triểu tiêu biểu cho toàn vùng, Nói gì đến cái gọi là chiến lược “ngăn bành trướng” của Mỹ. Chẳng lẽ việc trở lại Việt Nam bằng sức mạnh kinh tế lần này, Hoa Kỳ lại rơi vào hố thảm bại như lần đem quân đội vào Việt Nam trước đây sao? Xin hãy thử nghĩ coi, với sức mạnh của một siêu cường kinh tế, với sự tính toán chính xác của óc thực dụng Mỹ, mà sử dụng phương pháp “nhập nội” cận chiến với bọn tư bản lạc hậu tham lam Việt Cộng trên kinh trường Việt Nam thì thắng bại về ai đã rõ. Nhưng Việt Cộng chết, đâu phải một mình chúng chết, chúng còn kéo theo toàn thể dân tộc xuống bùn mới là khổ. Con đường mà toàn dân Việt Nam phải tự cứu mình là quyết liệt đấu tranh giành lại các quyền tự do, buộc nhà nước phải Dân Chủ Hóa chế độ, tạo điều kiện cho Quốc Dân chủ động gia nhập tiến trình Toàn Cầu Hóa. Đây cũng là hướng tiến tới của Hoa Kỳ và Thế Giới. Nhờ đó Kinh Tế Việt Nam sẽ phát triển vững mạnh, sớm thoát ra khỏi danh sách của nền Kinh Tế Phi Thị Trường.

Little Saigon 20/11/2006.

Nếu không có nhận thức TỰ TRỌNG NHÂN PHẨM của mình - TỰ DO DÂN CHỦ của mình - thì cái gọi là "lòng yêu nước, tính dân tộc" chỉ là cảm tính nông nổi và bầy đàn, nếu chưa nói là gian man

Thư Mục