Lý Đại Nguyên

Do đức từ bi và đại nguyện cứu khổ, cứu nạn của Đạo Phật, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã thực hiện 3 cuộc công khai cứu trợ Dân Oan tại Sàigòn, ngày 13/07 và 17/07; cũng như tại Hànội ngày 23/08/2007. Nhất là vào ngày 17/07/07, có sự xuất hiện của Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, hòa thượng Thích Quảng Độ, cùng chia xẻ nỗi oan khuất với Dân Oan của các tỉnh Miền Nam tập trung về Sàigòn để khiếu kiện trong vô vọng. Vô vọng vì từ trước tới nay, Dân Oan chỉ có một cửa duy nhất là kêu oan với chính những kẻ đã tham lam, quyết tâm, cố ý tạo ra cảnh oan khiên đó. Vậy, Dân Oan thấp cổ, bé miệng, nghèo khó, làm sao, và đến kiếp nào mới được đền đáp xứng đáng!? Trong khi đó dân chúng đô thị thì lo bươm chải kiếm sống, thời giờ đâu mà lo chuyện bao đồng. Đến khi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất dân lập và ngài Quảng Độ nhập cuộc cứu trợ Dân Oan, thì tình thế lập tức đổi chiều. Dư luận người Việt trong, ngoài nước và quốc tế bắt đầu quan tâm và hết mình hỗ trợ Dân Oan Việt Nam, mà từ lâu đã bị bỏ quên, để mặc cho bọn Tham Nhũng Việt Cộng, lớn, bé tha hồ cướp, bóc lớp dân cùng khổ này.
Bọn Việtcộng thực sự hoảng sợ, họ đã vội vàng “chính trị hóa” vấn đề, cho rằng ngài Quảng Độ đã điểm trúng tử huyệt của “Đảng Việt Cộng Tham Nhũng”. Nên lập tức xuống tay đàn áp, giải tán Dân Oan. Rồi mở chiến dịch toàn diện đánh phá hòa thượng Thích Quảng Độ, và hàng giáo phẩm Viện Hóa Đạo, cũng như 22 ban đại diện của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Với một Giáo Hội đã bị Việtcông cố tình khai tử từ năm 1981, mà đã tự bứt phá cùm xích để ngang nhiên phục hoạt giữa trùng trùng hiểm nguy, kể từ ngày 02/05/1992 cho đến nay, thì sự đánh phá, quy chụp, nói xấu, khủng bố, trấn áp, bỏ tù, quản chế, đấu tố của chế độ độc đảng, độc tài, toàn trị Việtcộng đối với hàng lãnh đạo và tổ chức Giáo Hội mà không xẩy ra mới là chuyện lạ. Nhưng điều tối nguy hiểm cho giáo hội là Việtcộng đã vận dụng được những tăng sĩ, vốn từng là nạn nhân hàng đầu của cộng sản trước kia ở trong nước, và những cư sĩ có công lớn trong công cuộc phục hoạt giáo hội tại hải ngoại, để chống laị cá nhân hòa thượng Quảng Độ, chỉ vì tâm trong sáng, tính cương trực, hạnh kiên trì bất khuất của Ngài, không chịu thỏa hiệp với chế độ độc tài Việtcộng trong khi Việtnam chưa có tự do tôn giáo, người dân Việtnam chưa được sống trong chế độ dân chủ tự do thực sự.

Họ cho rằng chính ngài Quảng Độ là trở lực trong việc Việtcộng thừa nhận tính cách hợp pháp của giáo hội. Vì nhà cầm quyền Việtcộng đã đưa ra miếng mồi nhử, rất dễ nuốt, đối với những kẻ thiển cận, muốn mau chóng thay đổi tư thế một giáo hội nạn nhân trở thành một giáo hội thỏa hiệp, qua 3 lựa chọn. 1- Chấp nhận danh xưng GHPGVNTN nhưng loại bỏ 2 ngài Huyền Quang và Quảng Độ. 2- Phải bỏ danh xưng GHPGVNTN, lấy một danh xưng khác. 3- Sát nhập 2 giáo hội dân lập và đảng lập vào thành Tổng Giáo Hội. Lẽ tất nhiên cả ba hình thái giáo hội đó vẫn phải chịu chi phối bởi quy chế “xin cho”của Pháp Lệnh Tôn Giáo Tín Ngưỡng, phải thống thuộc trong Mặt Trận Tổ Quốc do cộng đảng lãnh đạo. Cả 3 lựa chọn đó chỉ là một sự đầu hàng nhục nhã, phản bội lý tưởng của tăng, ni, phật tử đã hy hiến sinh mạng cho đạo pháp, những hy sinh của tăng, ni, phật tử đã bị đầy ải, cầm tù; nhất là dập tắt nguồn hy vọng của phật tử cũng như toàn dân đang hướng về Giáo Hội Dân Lập Truyền Thống của Dân Tộc, để cùng góp sức trong công cuộc tranh đòi Tự Do Dân Chủ cho Việtnam.

Để tránh nạn Việcộng dùng những người thân quen của giáo hội hợp sức với họ lũng đoạn tổ chức của Giáo Hội ở trong cũng như hải ngoại. Nhất là việc Việtcộng có thể dùng bạo lực để triệt tiêu Lưỡng Viện Tăng Thống và Hóa Đạo, nên Đức Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang, ngày 08/09/2007 đã ban hành Giáo Chỉ số:09/VTT/GC/TT, thành lập Văn Phòng II Viện Hóa Đạo đại diện cho Viện Hóa Đạo tại hải ngoại, truyền đạt chủ trương đường lối và hoạt động của Giáo Hội. Văn Phòng ÌI trực thuộc sự chỉ đạo của Viện Trưởng VHĐ. Thành viên Văn Phòng II do Viện Trưỏng VHĐ thỉnh tuyển, bổ nhiệm. Văn Phòng ÌI, nối tiếp nhiệm vụ và hoạt động của Giáo Hội gặp lúc Viện Hóa Đạo trong nước bị đàn áp không thể hoạt động. Văn Phòng ÌI và các thành viên được thỉnh cử hoạt động vô thời hạn. Hòa thượng Thích Hộ Giác được thỉnh tuyển và bổ nhiệm làm Chủ Tịch Văn Phòng ÌI VHĐ. Thượng tọa Thích Viên Lý, tổng thư ký. Sư bà Thích Nữ Nguyên Thanh, tổng thủ bổn… và các thành viên khác đều là những người có thành tích kiên trì phục hoạt giáo hội và tranh đòi tự do dân chủ cho quê hương. Như thế Việtcông không thể thò tay ra hải ngoại để phá hoại được. Trước đây khi các vị lãnh đạo Giáo Hội trong nhà còn bị cầm tù thì chính Tăng, Ni, Cư Sĩ tại hải ngoại là lực lượng tiền phong trong phong trào phục hoạt Giáo Hội. Vậy Việtcộng đừng hoang tưởng là tiêu diệt nổi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất nữa.

Việc kiện toàn và tinh hóa lại hệ thống điều hành Giáo Hội lần này, tuy là một cuộc giải phẫu kịp thời, nhưng mất mát khá nặng về mặt tình cảm. Trong Thông Bạch Hướng Dẫn Thi Hành Giáo Chĩ số 09 của Đức Tăng Thống. Hòa thượng Viện Trưởng VHĐ đã nhắc tới bản phúc trình của hòa thượng Thích Thiện Hạnh, Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống về việc 2 cư sĩ hải ngoại Trần Quang Thuận và Bùi Ngọc Đường chê trách hòa thượng Thích Quảng Độ. Nguyên văn của ngài Thiện Hạnh là: “Sau hết Bùi Ngọc Đường còn khuyên chúng tôi từ chức Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống để nghỉ ngơi, giống hệt như lời thượng tướng công an Nguyễn Văn Hưởng đã khuyên Đức Tăng Thống thôi việc, nghỉ ngơi. Giọng điệu hai anh như muốn thỏa hiệp (với nhà nước) để sinh hoạt, ý tưởng ấy còn được thấy rõ qua nhóm Thân Hửu Già Lam” . “Chúng tôi được biết, ở tu viện Quảng Hương Già Lam (Gò Vấp Sàigòn) cách đây một năm đã thành hình một nhóm có tên gọi ‘Thân Hữu Già Lam’. Thành viên khoảng trên dưới 40 vị, gồm các thành phần Tu sĩ, Cư sĩ, Cư sĩ tu xuất, có mặt trong, ngoài nước khắp các châu lục. Các vị sinh hoạt dưới dạng Tăng Già, chưa dám đứng hẳn vào Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam năm 1981 (tức là Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước). Các vị quyên góp gây quỹ xây dựng Đại Học, Thư Viện, Hội Trường, làm Văn Hóa, Giáo Dục Phật Giáo. Đứng đầu nhóm có giáo sư tiến sĩ Lê Mạnh Thát và học giả thượng tọa Thích Tuệ Sỹ”.

Nói thật cho mà biết, Việtcộng còn cầm quyển ngày nào, thì lời hứa của họ với các vị về các công trình Văn Hóa Phật Giáo nêu trên, đến kiếp sau cũng chẳng có. ( Buồn quá Tuệ Sỹ ơi! Không biết Tuệ Sỹ còn nhớ cái án tử hình của mình không? Có nhớ mấy chữ khi còn ở tù viết ra cho thầy Đức Nhuận rằng: “Giáo Hội Phật Giáo không thể nằm trong Mặt Trận Tổ Quốc” không? Tg). Nói gì thì nói, làm gì thì làm, GHPGVNTN còn các ngài Huyền Quang, Quảng Độ, Thiện Hạnh, và ngài Đức Chân là Già Lam Truyền Thừa, cùng quyết tâm phục hoạt Giáo Hội Dân Lập Truyền Thống, dù cho các Ngài còn bị quản chế, hay ở tù, thì Tăng, Ni, Cư Sĩ, Phật Tử trong, ngoài nước vẫn hướng theo các Ngài, để góp sức với Văn Phòng II VHĐ và toàn dân trong công cuộc vận động Tự Do Dân Chủ cho Việt Nam đến thành công.

Little Saigon ngày 09-01-2007.

Nếu không có nhận thức TỰ TRỌNG NHÂN PHẨM của mình - TỰ DO DÂN CHỦ của mình - thì cái gọi là "lòng yêu nước, tính dân tộc" chỉ là cảm tính nông nổi và bầy đàn, nếu chưa nói là gian man

Thư Mục