Lý Đại Nguyên

Tưởng niệm lần thứ 34, ngày 30/04, ngày Miền Nam Tự Do bị rơi vào tay Việtcộng. Người Việt Hải Ngoại không một ai quên được nỗi nhớ, niềm đau và những đắng cay, lo sợ, mất mát, tủi nhục mà mình, người thân và đồng bào đã phải chịu đựng. Tuy thời gian có làm nguôi ngoai đi phần nào mối sầu hận đầy máu, nước mắt trong lòng, nhưng mỗi khi nghĩ tới toàn dân vẫn còn bị bọn Việtcộng tham nhũng, ngu si, độc ác cai trị và ngoan ngoãn làm tay sai cho Đế Quốc Đại Hán, cam tâm thực hiện kế hoạch “tàm thực” Việtnam và toàn vùng Đông Nam Á của bọn Bành Trướng Bắc Kinh, thì tim gan như bị lửa đốt. Chính vì vậy mà mùa tưởng niệm Quốc Nạn năm nay lòng người Việt tỵ nạn cộng sản trên toàn Thếgiới đều tập trung vào việc vận động đồng bào trong, ngoài nước đấu tranh đòi Chủ Quyền Dân Tộc và Vẹn Toàn Đất Nước.

Trungcộng chẳng những đã buộc Việtcộng phải ký các văn kiện “nhượng đất” năm 1999, “hiến biển” năm 2000 của Tổ Quốc cho chúng. Lại cưỡng nhận luôn chủ quyền 2 quần đảo Hoàngsa, Trườngsa đã chiếm của Việtnam, để tháng 12/2007 thiết lập ra thành phố Tamsa. Tháng 05/2008, kêu Nông Đức Mạnh sang Bắckinh để ký cam kết hợp tác toàn diện giữa 2 đảng, 2 nước. Tháng 12/ 2008, Trungcộng thực hiện việc khai thác bauxite tại Cao Nguyên. Mặc dù đầu tháng 11/08 một số nhà khoa học và quản lý đã yêu cầu dừng dự án này lại, vì không lợi cho kinh tế, hại cho môi trường, nguy cho an ninh. Nhưng nhóm cầm đầu Việtcộng vì quá sợ quan thầy, nên vẫn để cho Trungcộng đem dân và quân sang trực tiếp khai thác. Dư luận trí thức trong, ngoài nước bùng lên phản đối mãnh liệt. Thế mà Nguyễn Tấn Dũng vẫn nhơn nhơn tuyên bố: “Khai thác bô-xit Tâynguyên là chủ trương lớn của Đảng, được nêu trong nghị quyết Đại Hội Đảng lần thứ X”.

Ngày 29/03/2009, Hòa thượng Thích Quảng Độ, Xử Lý Viện Tăng Thống, kiêm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, ra Lời Kêu Gọi Đồng Bào trong nước: Tháng Năm Bất Tuân Dân Sự, Biểu Tình Tại Gia, nhằm nói lên mối ưu tư: Bảo Vệ Sinh Thái và Vẹn Toàn Lãnh Thổ. - Đòi nhà cầm quyền Việtnam phải nộp hồ sơ xác nhận thềm lục địa kịp thời hạn 13/05/09. - Phải công bố toàn bộ nội dung 2 hiệp ước về đất và biển đã ký với Trungcộng. – Kêu gọi triệu tập khẩn cấp một Đại Hội Đại Biểu Toàn Dân để thống nhất chận đứng việc khai thác quặng bô-xit Tây Nguyên. Lời kêu gọi này đã được người dân trong, ngoài nước nhiệt liệt hưởng ứng.

Trong nước dù toàn dân sống dưới sự kìm kẹp, xiết chặt thông tin, nhưng một vài tờ báo của đảng vẫn xé rào, viết bài về Hoàngsa, Trườngsa. Ngày 12/04/09, Giới Trí Thức, Văn Nghệ Sĩ và hàng Ngàn người còn nặng lòng với quyền tự quyết Dân Tộc, quyền tự do Con Người, cũng đã minh danh ký tên, gửi Kiến Nghị về Vụ Khai Thác Bauxite ở Tây Nguyên tới giới cầm quyền Hànội, để nói đến thiếu sót toàn diện, và những bất cập về chính trị, quốc phòng, môi trường, kinh tế, kỹ thuật. Rằng: “Chủ trương lập dự án được công khai hóa vào cuối năm 2008 sang đầu năm 2009, song thực ra nó đã được ký tắt với người Trungquốc từ nhiều năm trước, mà không hề xin ý kiến của Quốc Hội”. “Người Trungquốc đóng cửa các mỏ khai thác bauxite của họ, để chuyển sang khai thác ở Việtnam, định trút gánh nặng ô nhiễm môi trường cho các thế hệ Việtnam hôm nay và nhiều đời mai sau”. “Kỹ thuật, công nghệ và công nhân khai thác dự định du nhập chủ yếu từ Trungquốc”. Kiến nghị: “1- Phải đưa vấn đề dự án bauxite Tây Nguyên ra trước Quốc Hội…”. “2- Dự án bauxite Tây nguyên phải chính thức dừng lại…”. “3- cần được dư luận rộng rãi tham gia và theo dõi”. Dưới chế độ độc đảng, độc tài, toàn trị, mà có được một bản kiến nghị ngược lại chủ trương của nhà cầm quyền cộng sản, với hàng Ngàn chữ ký chính thức công khai như thế này, thì phải coi đây là biến cố quan trọng. Đã buộc Bộ Chính Trị cộng sản Việtnam, ngày 27/04/09 phải điều chỉnh chỉ đạo việc khai thác bauxite Tây Nguyên. Như: “Sử dụng lao động trong nước”. Tạm thời xoa dịu sự công phẫn của dư luận trong, ngoài nước. Còn thực tế, bọn 15 người này có cưỡng nổi với âm mưu “tàm thực” của Trungcộng hay không thì còn phải chờ.

Riêng về biển Đông, thì dù hải quân Trungcộng có dương oai, diệu võ cách mấy cũng không thể qua mặt nổi hạm đội của Mỹ tại Thái Bình Dương. Sự xuất hiện của chiến hạm USS John Stennis đậu ngoài khơi cách bờ biển Việtnam chừng 290 hải lý để đón phái đoàn quân sự cao cấp của Việtnam, ngày 22/04/09. Cùng đi với Đại Sứ Mỹ tại Hànội, ông Michael Michalak, trưởng đoàn Việtnam, đại tá Nguyễn Hữu Vinh tuyên bố: “Đây là bước đi hướng tới quan hệ hợp tác giữa quân đội hai nước”. Nghĩa là lực lượng hải quân Hoakỳ đã chính thức gửi cho Trungcộng một thông điệp “Chúng tôi luôn luôn có măt tại biển Đông để làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho toàn vùng Đông Nam Á”. Có lẽ nhờ thế, mà Ủy Ban Nhân Dân Đànẵng của Việtnam, ngày 25/04/09 mới dám công bố quyết định bổ nhiệm ông Đặng Công Ngữ làm chủ tịch huyện đảo Hoàngsa. Ngày 28/04/09, Trungcộng gửi kháng thư tới Hànội quyết liệt phản đối.

Về hồ sơ thềm lục địa Việtnam, ngày 28/04/09, Vụ trưởng Vụ Biển, Ban Biên Giới, Bộ Ngoại Giao, Nguyễn Quang Vinh cho biết: “Việtnam sẽ gấp rút để nộp đăng ký đúng thời hạn. Dự kiến, Việtnam sẽ nộp báo cáo trước thời hạn 1 tuần”. Việtnam đã thỏa thuận với Malaysia viết báo cáo chung lên Liên Hiệp Quốc. Cùng mời Brunei tham dự. Philippine không nêu khu vục chồng lấn với Việtnam trong báo cáo của mình, và cam kết sẽ không phản đối Việtnam. Phần Trungcộng thì phản đối tất cả các nước trong khu vực về báo cáo thềm lục địa, không chỉ riêng Việtnam. Xem vậy Việtnam hoàn toàn đứng chung quyền lợi với các nước trong vùng để chống đỡ với sự bành trướng lãnh hải của Trungcộng.

Tờ báo Kommersant của Nga, dẫn lời của tổng giám đốc công ty đóng tàu Admiralty Shipyards, ở Petersburg là ông Vladimir Aleksandrov rằng, công ty này đã được giao nhiệm vụ đóng cho Việtnam 6 chiếc tàu ngầm Kilo, chạy điện và dầu diesel, trị giá tất cả là 1.8 tỷ USA. Loại tầu này có bí danh là “lỗ đen”, tránh bị phát giác và được xem như loại tàu chạy êm nhất thế giới. Trungcộng hiện có 12 chiếc cùng loại. Ấnđộ đã đồng ý đào tạo quân nhân về tầu ngầm cho Việtnam. Nhậtbản là nước viện trợ kinh tế lớn nhất cho Việtnam. Đương nhiên Hoakỳ vẫn là lực lượng trừ bị khổng lồ đứng đàng sau. Như vậy “Thế Quốc Tế” cho Việtnam đã có. Nhưng nếu không có “Thế Quốc Dân” thì Chủ Quyền Dân Tộc và Vẹn Toàn Đất Nước vẫn còn mong manh. Bởi vậy toàn dân, trong, ngoài nước phải tiếp tục tranh đòi Dân Chủ Hóa đất nước, thì dân tộc Việtnam mới có thế chủ động gia nhập tiến trình Toàn Cầu Hóa được.

  • Little Saigon ngày 28-04-2009.


Lý Đại Nguyên

Đứng trước viễn cảnh Việtnam sắp bị mất nước, mất lãnh thổ, lãnh hải, hải đảo, mất luôn dân tộc vào tay Trungcộng, do bọn Mancộng Hànội hợp pháp hóa việc cho công nhân, thương nhân, quân nhân, thường dân Trungcộng tự do tràn vào Việtnam, nắm các điểm chiến lược quân sự trên Cao Nguyên Trung Phần, các đặc khu kinh tế thương maị, xây dựng ở đô thị. Đồng thời dùng văn hóa “Khổng Giáo” cổ xưa lỗi thời đã bị Đế Quốc Tầu “Hán hoá”, cộng với hệ thống độc đảng, độc tài bạo trị Mao Trạch Đông của Trungcộng, nhồi nhét vào đầu đảng viên và quân, cán, chính Việtcộng, triệt để thay thế cho nền Văn Hóa Viên Dung Đa Nguyên, Phân Nhiệm, Điều Hợp của truyền thống Dân Tộc Việtnam, rồi ngoan ngoãn thực hiện kế hoạch “Hán Hóa Việt Nam” của Trungcộng, nhằm đàn áp, khống chế toàn dân Việtnam đang khao khát Tự Do Dân Chủ, trong khi vẫn cố tình quên việc đệ trình Liên Hiệp Quốc để xác nhận chủ quyền thềm lục địa, bao gồm 2 quần đảo Hoàngsa, Trườngsa của Việtnam, mà hạn chót vào ngày 13/05/2009 này. Nên Hoà Thượng Thích Quảng Độ, Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống, kiêm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã phải đưa ra Lời Kêu Gọi BẤT TUÂN DÂN SỰ, BIỂU TÌNH TẠI GIA, mở đầu cho Phong Trào Đấu Tranh Bất Bạo Động, nhằm chống lại việc Việtcộng hợp pháp hóa cho Trungcộng thôn tính toàn diện Việtnam. Tuy lời kêu gọi này đã được dư luận hiểu biết trong, ngoài nước nhiệt tình ủng hộ và hưởng ứng, nhưng bọn Mancộng vì quá lo sợ, nên đã tung ra phản đề cho rằng: “Biểu Tình Tại Gia là làm lợi cho Việtcộng”. Đây là biện pháp đánh trả có tác dụng đối với những người đang hăng say chống cộng, muốn có các biến động xuống đường ngoạn mục ngay tức thời, còn kết quả thuận lợi hay nguy hại đến đâu thì không cần bàn tới. Thực ra dưới chế độ cộng sản toàn trị, lâu lâu bọn cầm đầu gian manh cũng phải tạo ra các biến động “xả hơi”, để bắt các tổ chức đối kháng còn non trẻ, chưa quy tụ thành sức mạnh khuynh đảo chế độ, nhằm làm cho dân chúng sợ cái gọi là “thủ đoạn chính trị”, cho dân chúng cam chịu từ bỏ dân quyền và nhân quyền của mình, cho các tổ chức xã hội dân sự không thể xuất hiện, cho cộng đảng độc quyền chính trị buôn dân, bán nước. Làm cho dân lành không dám tin vào tinh thần và sức đề kháng của dân tộc mình nữa. Đành “an phận thủ thường” lo kiếm sống hàng ngày cho gia đình yên ổn, mặc cho bọn Mancộng làm gì đó thì làm.

Thực ra trong phương pháp đấu tranh bất bạo động, việc bất tuân dân sự và biểu tình tại gia chỉ là một biện pháp đánh vào kinh tế, buộc kẻ đương quyền phải lo đối phó, và phòng vệ, làm cho tình thế căng thẳng, mà không thể xuống tay đàn áp phong trào được. vì chưa có sự sôi động bởi các cuộc xuống đường biểu tình. Còn phía người đấu tranh, đây được xem như một cuộc tập dượt tinh thần kiên nhẫn, kỷ luật nghiêm ngặt của cuộc “Đấu Tranh Bất Bạo Động” cũng như đánh giá sự hưởng ứng của toàn dân và đồng tình của dư luận quốc tế. Đấu tranh bất bạo động là sẵn sàng chấp nhận để cho đối phương bạo động với mình, mà mình không đánh trả. Nhưng quyết liệt, dứt khoát lao tới trước mặt đối phương trong mọi tình thế, mọi trường hợp, kể cả đấu tranh trên đường phố, để họ phải hiểu rằng: “Bạo Lực không thể thắng nổi Chân Lý”. Khiến cho áp lực Quốc Tế có lý do buộc giới cầm quyến phải nhượng bộ đòi hỏi chính đáng của toàn dân. Vậy Bất Tuân Dân Sự, Biểu Tình Tại Gia là cơ hội cho mọi người có thời gian tập trung ý lực, nếu là người có tín ngưỡng thì cùng nhất tâm cầu nguyện cho một mục đích tối thượng là đòi “Chủ Quyền Dân Tộc, Vẹn Toàn Quốc Thổ, Tự Do Dân Chủ” cho Việtnam.

Nhìn sang các cuộc đấu tranh đường phố của dân chúng Tháilan thì, từ năm 2006, quân đội Thái lật đổ chính phủ dân cử của thủ tướng Thaksin Shinawatra vì bị cáo buộc là lợi dụng chức quyền tham nhũng. Thailan sau thời quân quản, tái tổ chức bầu cử, phe của Thaksin vẫn thắng cử, vì được đa số nông dân ủng hộ. Samak Sundaravej được bầu làm thủ tướng. Phe đối lập tại đô thị, mặc Áo Vàng biểu tượng của Hoàng Gia tràn xuống đường biểu tình phản đối, chiếm đóng luôn tòa nhà chính phủ tại thủ đô Bangkok. Quân đội không can thiệp, Tòa Án phải đưa ra phán quyết buộc ông Samak phải từ chức vì can tội đã làm một công việc mà luật cấm vị thủ tướng không được làm. Quốc Hội bầu người anh rể cựu thủ tướng Thaksin là Somchai Wongsawat lên kế vị. Phong trào dân chúng đấu tranh đường phố lại càng quyết liệt hơn, họ làm chủ thủ đô, đồng thời chiếm luôn 2 phi trường chính của Bangkok, làm cho kinh tế Thái lâm nguy. Cuối cùng Tòa Án Thái phải ra phán quyết giải tán đảng Quyền Lực Nhân Dân –PPP- của Thaksin, cấm lãnh đạo đảng này, kể cả thủ tướng Somchai không được hoạt động chính trị trong 5 năm, vì can tội gian lận bầu cử.

Quốc Hội Thái bầu ông Abhisit Vejjajiva thuộc phe đối lập lên làm thủ tướng. Lập tức phe mặc Áo Đỏ, đa số ở nông thôn tập trung về Bangkok xuống đường biểu tình. Phe này vốn trung thành với Thaksin, ông đang sống lưu vong tại ngoại quốc vì tội tham nhũng, nhưng vẫn lên tiếng thúc đẩy cho phe Áo Đỏ lật đổ thủ tướng Abhisit, giải tán Quốc Hội, để ông sớm về nước. Phe Áo Đỏ ngày càng tỏ dấu quá khích. Tiến vào phá hoại Hội Nghị Thượng Đỉnh của khối ASEAN tại Pattaya, khiến các nguyên thủ quốc gia ở đây phải dùng trực thăng lánh nạn, làm cho thủ tướng Abhisit mất mặt, nước Thái tụt giảm trên trường quốc tế. Ngày 12/04/09, thủ tướng Abhisit ban bố tình trạng khẩn cấp tại thủ đô và vùng phụ cận. Bốn giờ sáng ngày 13/04/09 quân đội Thái bắt đầu chiến dịch vãn hồi trật tự tại Bangkok, bằng hơi cay và bắn súng chỉ thiên, Phe Áo Đỏ phản ứng lại bằng bạo lực, nhanh chóng cướp 3 xe chở gas đặt vào khu vực đông dân để quân đội không dám tấn tới, đốt vỏ xe, cướp 37 xe bus để ngăn đường, và cướp dinh chính phủ. Ngày 14/04/09, chính phủ Abhisit được Quân Đội hậu thuẩn đã vãn hồi trật tự tại Tháilan, để dân chúng đón mừng Năm Mới của Dân Tộc Thái. “Phe Áo Đỏ đã rút đi sau 4 ngày căng thẳng tại thủ đô Bangkok. Những người biểu tình chống chính phủ, bị quân đội bao vây chặt chẽ, cuối cùng đã nhận thất bại” -RFI-. Chính phủ đã ra lệnh bắt cựu thủ tướng Thaksin Shhinawatra hiện đang lưu vong, và 12 cộng sự viên trung thành của ông ta đã điều khiển cuộc biểu tình.

Cuộc đấu tranh trên đường phố của người dân đòi tự do dân chủ, là việc làm chính đáng, nhưng nếu dùng tới bạo lực, thì lập tức bị chống trả bằng vũ lực ngay, mà không ai có thể binh vực cho được. Vì trong thời đại Nhân Chủ Nhân Văn, thế giới công nhận và tôn trọng quyền tự do phát biểu ý kiến bằng các phương tiện hoà bình, như truyền thông, báo chí, hội thảo, biểu tình, biểu dương lực lượng của người dân nơi công cộng, ngoài đường phố, bằng phương pháp NhânVăn Bất Bạo Động, để buộc nhà đương quyền phải thay đổi. Dù cho có ngoan cố như bọn cộng sản, nếu hàng triệu người tay không, với ý chí kiên cường, nhẫn nhục, bất khuất, đồng loạt xuống đường, lừng lững đi tới, hoặc tọa kháng cầu nguyện cho Độc Lập Dân Tộc, Vẹn Toàn Quốc Thổ, Tự Do Dân Chủ, thì vũ khí nào cũng không cản nổi, nhà tù nào cũng không giam hết, quân đội nào cũng phải mềm lòng buông súng để “Bất Tuân Quân Sự” thôi.

* Little Saigon 14/04/2009.

VẪN PHẢI ĐỀ CẬP TỚI NHÂN QUYỀN ĐỐI VỚI CÁC CHẾ ĐỘ PHI NHÂN
Lý Đại Nguyên

Tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch –HRW- ngày 17-01-2009, đưa ra bản báo cáo thường niên về tình hình nhân quyền thế giới năm 2008, trong đó có chương nói về Việtnam. Nhận xét rằng:
“Hànội tiếp tục trấn áp các nhân vật hoạt động dân chủ, nhà báo, bất đồng chính kiến và thành viên các tổ chức tôn giáo không được nhà nước công nhận”. “…bất ổn xã hội khi hàng ngàn công nhân đình công đòi tăng lương và cải thiện điều kiện làm việc”. “Làn sóng khiếu kiện đất đai tăng lên trong năm ngoái. Nông dân các địa phương bất bình vì tham nhũng và tình trạng chiếm đất, đền bù không thỏa đáng đã kéo lên các thành phố lớn để phản đối sai phạm trong quản lý đất đai”.
Tuy nhiên, bản phúc trình nhận xét:
Quan hệ giữa Việtnam và Hoakỳ tiếp tục ấm dần với chuyến viếng thăm Mỹ của TT Nguyễn Tấn Dũng hồi tháng 06/2008”. “Hoakỳ đã không đưa Việtnam vào lại danh sách Các Quốc Gia Cần Quan Tâm Đặc Biệt về Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo –CPC- như một số tổ chức yêu cầu”
Bộ Ngoại Giao Hoakỳ hôm thứ tư 25-02-09 cũng vừa công bố bản phúc trình nhân quyền năm 2008, đề cập tới tình trạng tiếp tục đàn áp nhân quyền trên thế giới. Lên tiếng trong lời mở đầu cho bản phúc trình nhân quyền năm 2008, Ngoại Trưởng Hoakỳ Hillary Clinton cho biết:
“Hoakỳ không những ra sức theo đuổi các lý tưởng trên đất Mỹ, mà còn xúc tiến việc tôn trọng nhân quyền nhiều hơn khi Hoakỳ tiếp cận với các quốc gia và dân tộc trên khắp thế giới”.
Điều gây ngạc nhiên hơn mọi năm là bản phúc trình năm nay, Hoakỳ đã
“nhìn nhận những mối quan ngại của thế giới về thành tích nhân quyền tại chính nước Mỹ , sau khi có nhiều cáo giác liên quan tới hành động tra tấn, sách nhiễu tù nhân bị bắt trong “cuộc chiến chống khủng bố” của Hoakỳ”.
Theo bản phúc trình thì thành tích nhân quyền của Việtnam trong năm qua vẫn chưa thỏa đáng. Nhà cầm quyền tiếp tục ngăn chặn các quyền tự do căn bản, như tự do báo chí, tự do bày tỏ cảm nghĩ, tự do hội họp; cùng với hành động đàn áp những người bất đồng chính kiến, khiến nhiều người còn phải bỏ nước ra đi lánh nạn, trong khi người dân không thể thay đổi chính phủ bằng lá phiếu, các hoạt động chính trị bị ngăn cấm. Tình trạng kỳ thị sắc tộc, buôn bán phụ nữ, trẻ em tiếp diễn. Những người hoạt động tích cực cho Công Đoàn bị bắt giữ, hù dọa trong khi chính phủ hạn chế quyền công nhân. Luật pháp Việtnam quy định tội hình đối với quan chức tham nhũng, tuy nhiên chính phủ không thực hiện luật này một cách hiệu quả, khiến nhiều khi quan chức dính líu tham nhũng không bị trừng phạt. Nạn tham nhũng tiếp tục là vấn đề lớn tại Việtnam.

Về vấn đề tôn giáo, bản phúc trình cho biết Hiến Pháp và các nghị định của chính phủ Việtnam có quy định về tự do thờ phượng, nhưng khó khăn tiếp diễn trong việc thực hiện Khung Pháp Lý về Tôn Giáo. Bản phúc trình lưu ý rằng:
“Những Giáo Hội bị hạn chế nghiêm trọng khi họ tổ chức những hoạt động, mà nhà cầm quyền xem là mang tính chính trị, hay thách thức quyền lực của họ, nhất là liên quan đến Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Giáo Hội “Tại Gia”của người thiểu số Tây Nguyên”.
Trong khi đó, dân biểu Ed Royce, đại diện địa hạt 40 của tiểu bang California, hiện là thành viên cao cấp Tiểu Ban Châu Á Thái Bình Dương và Môi Trường thuộc Ủy Ban Ngoại Giao Hạ Viện Hoakỳ, tuyên bố:
“Báo cáo này cho thấy chi tiết về nhiều vụ vi phạm nhân quyền tiếp tục gây hại đối với Việtnam, nhưng tôi muốn thấy Bộ Ngoại Giao có quan điểm mạnh mẽ hơn”. “Nếu chỉ đơn thuần gọi tình trạng đó là không thỏa đáng, như trong bản báo cáo, thì quá nhẹ”.
Ông kêu gọi:
“Bộ Ngoại Giao Mỹ đưa lại Việtnam vào Danh Sách Các Nước Gây Quan Ngại về Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo –CPC.
Về phía nhà cầm quyền Việtcộng Hànội thì cho bản phúc trình của Mỹ “thiếu khách quan”, “dựa trên những thông tin sai trái”. Trả lời báo giới, phát ngôn viên Lê Dũng củaViệtcộng vẫn nhơn nhơn tuyên bố: “
Nhà nước Việtnam tôn trọng các quyền tự do dân chủ của người dân và luôn luôn bảo đảm điều kiện thuận lợi để người đân thực hiện quyền của mình”.
Nhưng không quên thêm rằng:
“…kiên quyết đấu tranh với các hành vi lợi dụng các quyền đó để xâm hại lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân”.
Cả thiên hạ đều biết thật rõ, hiện nay người dân Việtnam đang phải sống dưới bóng tối của chế độ cộng sản độc đảng, độc tài, độc ác, tham nhũng, toàn trị thì làm gì người dân có được quyền Tư Do Dân Chủ để mà lợi dụng xâm hại lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân. Đúng là Lê Dũng nói theo giọng điệu “phản động” chống lại đường lối chủ trương nhất quán của đảng là
“luôn luôn củng cố và tăng cường vai trò lãnh đạo tuyệt đối của đảng”.
Đảng đã ngang nhiên ghi vào Điều 4 Hiến Pháp 1992 quyền lãnh đạo tối cao vĩnh viễn không do dân bầu. Bản hiến pháp đó là bất hợp hiến, vì nó không được đem ra cho toàn dân phúc quyết - trưng cầu dân ý - theo đúng như Điều 70 của bản Hiến Pháp gốc 1946 của chính họ. Hiến Pháp bất hợp hiến. Luật Pháp tùy tiện luộm thuộm bất minh, leo cả lên đầu hiến pháp. Thế rồi còn bị tùy thuộc vào nghị định Hướng Dẫn Hành Chánh của chính phủ có cho nó ra đời hay cứ ngâm tôm, hoặc hướng dẫn cách nào đó theo lệnh đảng. Đảng tiếm vị Quốc Dân, ngồi lên trên Lập Pháp, Hành Pháp, Tư Pháp, bắt Báo Chí đi đường một chiều do đảng khống chế. Lấy tư tưởng Mác Lê Hồ làm kim chỉ Nam cho toàn đảng, toàn quân, toàn dân, thì dân làm gì có quyền tự do tư tưởng, tôn giáo nữa. Tinh thần đã không tự do, quyền tư hữu cũng bị cuớp mất. Quan trọng ở chế độ Dân Chủ là Quyền Lựa Chọn và Quyền Phát Biểu thì cộng đảng đã cướp mất qua trò chơi xảo trá là “Đảng Cử Dân Bầu”“Độc Quyền Truyền Thông”. Con người trong chế độ cộng sản chỉ còn là “Con Vật Sản Xuất” theo lệnh đảng. thì còn làm gì có Nhân Quyền và Quyền Tự Do, Quyền Dân Chủ nữa.

Nhất là đối với những cán bộ cộng sản đã bị “duy vật hóa”, để rồi bước vào kinh tế thị trường thì thành “duy tiền hóa”, làm gì còn nhân tính, nhân tình, nhân cách, nhân đạo, nhân đức, để biết thế nào là dân chủ nhân quyền. Chẳng thế mà, khi đứng trước bọn Trungcộng bành trướng, nhóm Mancộng lãnh đạo Hànội đã trở thành những “Con Chó Bắc Kinh”, ngoan ngoãn dâng đất, hiến biển, nhượng đảo và cúng tất cả tài nguyên của Tổ Quốc cho quan thầy Trungcộng, đẩy Dân Tộc và Đất Nước Việt Nam vào vòng nô lệ cho Đế Quốc Đại Hán. Chính công cuộc tranh thủ Tự Do Dân Chủ Nhân Quyền của toàn dân Việtnam hiện nay là con đường duy nhất để cứu dân cứu nước. Đành rằng, chủ lực vẫn tùy thuộc vào người Việtnam. Nhưng việc quốc tế quan tâm thúc đẩy chế độ Việtcộng tôn trọng nhân quyền, dù biết họ là bọn phi nhân, độc tài, độc ác, độc quyền, gian tham, nhưng đó lại là sự hỗ trợ và khích lệ rất cần thiết đối với những người đấu tranh và toàn dân Việtnam trong công cuộc đòi Tự Do Dân Chủ Nhân Quyền tại Việtnam. Riêng người Việt tỵ nạn Cộngsản thì với Ngọn Cờ Vàng trong tay, quyết không để lũ “Chó Bắc Kinh”, mỗi khi công du các nước Dân Chủ được hãnh diện, thong dong, thoải mái vào, ra bằng cổng chính.

* Little Saigon ngày 03-03-2009.

Lý Đại Nguyên

Chuyến công du đầu tiên của Ngoại Trưởng Hillary Clinton của Chính Quyền Dân Chủ Mỹ, Barack Obama đến 4 nước Á Châu: Nhậtbản, Indonesia, Hànquốc và Trunghoa cộng sản, cho thấy chính sách ngoại giao của nước Mỹ vẫn đặt Á Châu ở hàng ưu tiên. Trong đó Nhậtbản là một Đồng Minh chiến lược trọng yếu toàn diện. Indonesia là một nước bạn mới, đông tín đồ ôn hòa nhất trong Thế Giới Hồi Giáo. Hànquốc là nước bạn tiền đồn của Mỹ, đối diện với Hàncộng ngang ngược. Và Trunghoa cộng sản là trọng tâm của chuyến công du của bà Clinton. Ở đây bà Clinton đã gặp hầu hết các lãnh tụ của Trung Nam Hải. Ngày 21-02-2009 Chủ tịch Trungcộng, Hồ Cẩm Đào đón tiếp Ngoại Trưởng Hoakỳ, Hillary Clinton tại Bắckinh. Đúng ngày này năm xưa, 21-02-1972, Mao Trạch Đông chủ tịch Trungcộng đã đón tiếp tổng thống Hoakỳ, Richard Nixon, mở đầu quan hệ Mỹ-Hoa. Lần này 2 bên đã làm việc chặt chẽ hơn về vấn đề khí hậu thay đổi, vấn đề an ninh, và giải quyết cuộc khủng hoảng tài chánh toàn cầu. Nhưng điều đáng ghi nhận ở đây là Ngoại Trưởng Mỹ đã không đá động gì đến vấn đề Nhân Quyền, đang là nhu cầu khẩn thiết của toàn dân Trunghoa, cũng như toàn cõi Áchâu và toàn thể Thếgiới.

Các hội Nhân Quyền trên khắp thế giới đều quyết liệt phản đối, nhất là 2 tổ chức nhân quyền có uy tín quốc tế là Ân Xá Quốc Tế ở Anh và Human Rights Watch ỏ Mỹ. Việc không đề cập tới vấn đề Nhân Quyền không phải do chủ quan của bà Clinton, mà phải là phản ảnh Chính Sách Ngoại Giao Hoa Kỳ Đổi Mới của chính quyền Dân Chủ Obama. Vì khi ra đi, Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ bà Hillary Clinton đã tuyên bố với báo chí rằng:
“Không nên để các cuộc tranh luận với Trungquốc về nhân quyền làm cản trở những tiến bộ trong các lãnh vực khác”.
Ngay lâp tức tổ chức theo dõi Nhân Quyền Human Rights Watch phản bác rằng:
“Những nhận định của bà Clinton là một sai lầm chiến lược”.
Đúng vậy, nhân loại từ lâu nay đã quá quen là nước Mỹ, qua nhiều đời Tổng Thống đều giương cao Ngọn Cờ Nhân Quyền làm chính nghĩa cho nền ngoại giao của mình. Để cụ thể hóa vấn đề nhân quyền, đến thời tổng thống Bill Clinton, năm 1998, đã ký ban hành Đạo Luật Tự Do Tôn Giáo Thể Giới, lấy đó làm căn bản cho Chính Sách Ngoại Giao của nước Mỹ. Nay, khi bà Hillary Clinton lên làm Ngoại Trưởng thì việc đầu tiên lại “Dùng Nhân Quyền đổi lấy công trái phiếu của Mỹ ở Trungcộng” mới thật là éo le, sai nguyên tắc chiến lược truyền thống của nước Mỹ. Nước Mỹ sẽ mất tất cả.

Sau cuộc gặp Hồ Cẩm Đào và các lãnh tụ cộng sản Trunghoa, bà Clinton tuyên bố:
“Bắc Kinh vẫn tin tưởng vào công trái phiếu của Mỹ”.
Tính đến tháng 12/08, Trungcộng là nước mua nhiều công khố phiếu của Mỹ nhất, lên tới gần 700 tỷ USD. Sắp bằng con số trong kế hoạch kích thích kinh tế 787 tỷ USD của chính quyền Dân Chũ Mỹ, Obama. Theo các chiến lược gia kinh tế tài chính Mỹ, thì nước Mỹ phải cần đến 3.000 tỷ USD mới mau cứu nổi. TT Bush đã xài 700 tỷ USD để cứu nguy ngân hàng. Nghĩa là 2 ông tổng thống Cộnghòa và Dânchủ chỉ mới chi ra gần một nửa số cần phải dùng. Hiện nay trong tay Trungcộng còn khoảng 2.000 tỷ USD tiền mặt. Phía Mỹ rất cần tới số tiền đó, Phía Tầu cũng rất lo là nếu nền kinh tế Mỹ sụp đổ thì Dollars Mỹ sẽ xuống gía, lỗ to, mà không bán cho ai được, nên cần mua công trái phiếu của Mỹ, dù không có lời, nhưng không lỗ, vì một Dollar Mỹ vẫn trả cho một Dollar cộng thêm tiền lời. Với đầu óc thực tế của nhà buôn người Hoa, thì giá nào họ cũng phải chọn mua công khố phiếu của Mỹ, dù bà Clinton có đặt ra vấn đề Nhân Quyền hay không cũng vậy.

Vì coi nhẹ vấn đề nhân quyền, không dám đặt vấn đề Nhân Quyền ra với lãnh đạo Bắckinh, bà Clinton đã bị Báo Wall Street Journal nặng lời phê phán là:
“phạm lỗi lầm như một tay mơ về ngoại giao”.
Theo báo này cho rằng:
“chính thành tích nhân quyền xấu xa của Bắckinh đã ngăn trở mối quan hệ song phương. Hệ thống pháp luật mờ ám của Bắckinh, từng dùng để giam nhốt những người bất đồng chính kiến, cũng đã gây tổn hại tới các doanh gia Mỹ”… “là một cái tát vào mặt những người bất đồng chính kiến ở Trungquốc”… “làm như vậy, tân ngoại trưởng Mỹ đã dành sẵn chỗ cho Bắckinh gia tăng cường độ đàn áp thành phần bất đồng chính kiến, vào đúng năm nay là dịp ghi nhớ 20 năm cuộc đàn áp đẫm máu ở Thiên An Môn, là 50 năm đàn áp cuộc nổi dậy ở Tâytạng, và một năm từ cuộc nổi dậy ở Lahsa, thủ phủ xứ này”. Tệ hơn, lời tuyên bố đó có thể đánh dấu một sự thay đổi trong chính sách nhân quyền của Washington. Các chính quyến trước của cả hai đảng đều coi nhân quyền là đề tài quan trọng…”.
Báo Wall Street Journal kết luận,
“nếu lời tuyên bố đó là sự sơ thất, thì nay là lúc xác nhận đó là sơ sót. Còn nếu đó là sự đổi thay một chính sách, thì cần suy nghĩ lại”. (Trích từ Đài Á Châu Tự Do.)
Thực ra chuyến Hoa du, bà Clinton chỉ giải quyết được vấn đề Trungcộng chịu tiếp tục ngoan ngoãn làm chủ nợ cho Mỹ. Vì đây là trò chơi “Chết đuối người trên cạn” của hệ thống tài chánh Tư Bản Toàn Cầu. Sống thì cùng sống, mà chết thì cùng chết. Còn vấn đề khí thải thì Trungcộng lấy cớ là nước kỹ nghệ mới phát triển không đủ sức làm giảm khí thải độc hại, Riêng về vấn đề an ninh thì giới quân sự Mỹ chưa hoàn toàn bị thuyết phục bới sáng kiến tăng nhanh sự hợp tác quân sự với Trungcộng. Vì tham vọng bành trướng quân sự ra Biển Đông và xuống vùng Đông Nam Á đã quá lộ liễu. Sau chuyến đi thăm Thái Lan, Hồng Kông, Nam Hàn tuần qua, Đô Đốc Timothy Keating tư lệnh lực lượng Hoakỳ tạì Áchâu Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương đã kể lại rằng:
“một tướng Trungquốc đề nghị với ông rằng, hai nước nên chia đôi Thái Bình Dương”. “Theo gợi ý đó phía Trungquốc, họ sẽ lo gìn giữ hòa bình từ Hawail về phía Tây, để cho Hoakỳ lo từ Hawail sang phía Đông”.
Đô đốc nói, ông đã trả lời “No, thanks!” (Không, cảm ơn). Với tham vọng không cần che dấu đó, liệu ông tổng thống Mỹ, Barack Obama trong cuộc gặp đầu tiên với Hồ Cẩm Đào, chủ tịch Trungcộng tại hội nghị G20, diễn ra vào ngày 02/04/09 ở Luândôn có dám ôm hôn thắm thiết “đồng chí” cộng sản Đại Hán này. Rồi hứa chia đôi Thái Bình Dương, trao cả Đồng Minh Nhậtbản, Hànquốc, ASEAN và cả Úc châu cho Đế Quốc Trung Cộng hay không? Nếu dám như vậy, thì đúng với cái tên mới đặt của nhà sử học Niall Ferguson, gọi đó là thứ Liên Minh Chimerica. Trong thần thoại Hylạp, Chimera là con quái vật nhiều đầu, miệng phun ra lửa. Đến đây lại thấy rằng, chỉ vì Lê Khả Phiêu muốn giữ chiếc ghế Tổng Bí Thư khóa IX, do Muời, Anh, Kiệt theo kế hoạch của Bắckinh mà đánh phá, nên phải nghe lệnh quan thầy không dám qua mặt Trungcộng, để ký Hiệp Ước Thương Mại Việt Mỹ trước Trungcộng một năm, vào 1999, nên đã thành mối họa lớn cho Việtnam, mối nguy cho toàn cõi Áchâu và mối đe dọa cho Hoakỳ trong tương lai. Bài trước đã đề cập tới việc này.

* Little Saigon ngày 24/02/2009.

Lý Đại Nguyên

Trong thư đề ngày 14-01-08, cựu tướng Võ Nguyên Giáp gửi Nguyễn Tấn Dũng thủ tướng Việtcộng để góp ý về dự án bauxite Tây Nguyên. Theo ông Giáp thì:
“Đầu tháng 11-2008 một số nhà khoa học và quản lý có tên tuổi đã gửi kiến nghị đến lãnh đạo Đảng và nhà nước đề nghị cho dừng các dự án này để nghiên cứu , xem xét lại, cân nhắc lợi hại một cách toàn diện. Tuy nhiên, các dự án này vẫn được triển khai, trong tháng 12-2008, đã có hàng trăm công nhân Trung Quốc đầu tiên đã có mặt trên công trường (dự kiến cao điểm sẽ lên tới vài nghìn tại dự án)… “Về quy mô, quy hoạch khai thác bô-xít Tây Nguyên từ nay đến 2025 là kế hoạch lớn, giá trị ước tới gần 20 tỷ đô la Mỹ, sẽ tác động sâu sắc nhiều mặt còn hơn cả các công trình kinh tế lớn đã có ở nước ta”. “Việc xác định một chiến lược phát triển Tây Nguyên bền vững là vấn đề rất hệ trọng đối với cả nước về kinh tế, văn hoá và an ninh quốc phòng. Tôi đề nghị thủ tướng cho dừng triển khai các dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên và báo cáo Bộ Chính Trị chỉ đạo tiến hành các nghiên cứu vĩ mô cần thiết làm căn cứ cho mọi quyết định”.
Đã quá muộn rồi cựu đại tướng Giáp ơi! Bức thư ông gửi ra đúng vào ngày Nguyễn Tấn Dũng họp chính phủ để đưa ra kết luận rằng:
“Việc khai thác bauxite, sản xuất và luyện nhôm là phù hợp với chủ trương của đảng Cộng Sản Việt Nam”.
Đích ra, chỉ vì nhu cầu sản xuất kỹ nghệ máy bay và phi thuyền của Trungcộng rất cần tới nhôm khai thác tại Việtnam. Nên hồi cuối tháng 5/2008 Hồ Cẩm Đào chủ tịch Trungcộng đã triệu Tổng Bí Thư Man Cộng, Nông Đức Mạnh sang Bắc Kinh để đưa ra quan hệ 2 đảng và 2 nước trở thành “đối tác chiến lược toàn diện”. Rồi bắt chủ tịch Quốc Hội Việtcộng, Nguyễn Phú Trọng sang xác nhận điều hứa đó. Cuối cùng ngày 20 đến 23-10-08, nhân dịp dự hội nghị ASEM tại Bắc Kinh, Nguyễn Tấn Dũng thủ tướng Việtcộng phải gặp giới lãnh đạo Trungcộng để ký kết các văn kiện nhằm“cụ thể hoá mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện” ấy. Qua đó, cuối năm 2008 phải hoàn tất cắm mốc biên giới Việt, Hoa. Hợp tác khai thác nguyên nhiên liệu dưới biển, trên đất và các quyền lợi kinh tế trọng yếu khác.

Tóm lại đây là văn tự bán nước Việtnam của bọn Man Cộng Hànội đã ký với Tầu Cộng Bắc Kinh. Những vùng đất biên giới mà Tầucộng lấn chiếm của Việtnam từ nay đã được hợp thức hoá. Các vùng hải đảo Hoàng Sa, Trường Sa mà Tầucộng đánh chiếm của Việtnam thì bọn Mancộng Hànội mặc nhiên coi đó là của Trungcộng, nên chúng mới công khai kêu gọi các công ty khoan dầu ngoại quốc hợp tác khai thác, không thèm cho Việtnam dự phần. Trắng trợn nhất là việc khai thác các mỏ bauxite Tây Nguyên ở Bảo Lộc và Đắc Nông đã trao độc quyền cho Trungcộng đem người Tầu sang khai thác và đem quân đội Trungcộng sang đồn trú để canh giữ, không cho bất cứ người Việtnam nào được bén mảng tới, kể cả chính quyền, công an, quân đội Việtnam. Đây là một thứ “Tô Giới của Tầu trên đất Việt”. Giống như tô giới của người Tây trên đất Tầu ở Thượng Hải xưa. Trên danh nghĩa khu vực này bọn Mancộng Hànội trao cho ủy viên BCT, bộ trưởng CA là tướng Lê Hồng Anh phụ trách Trưởng Ban Chỉ Đạo phát triển Tây Nguyên. Nhưng dư luận trong nước ngờ rằng tay này là người Nam Bộ gốc Tầu Minh Hương, đã được Trungcộng cấy vào cộng đảng VN từ lâu, nên mới được trao cho việc chỉ đạo làm ăn sinh tử độc quyền này của họ, chứ không cho phép đảng và nhà nước Việtcộng trao cho phó thủ tướng Hoàng Trung Hải, hay chính quyền địa phương, hoặc một vị tướng quân đội nào khác, đứng ra quản lý, để nắm vững kỹ thuật khai thác, tránh gây độc hại môi trường, và số lượng sản phẩm để định gía thương mại.

Chính vì đây là vấn đề “bán nước Việt cho kẻ thù truyền kiếp Tầu” nên bọn Mancộng Hànội rất sợ phản ứng của Thanh Niên, Sinh Viên và nhất là Quân Đội, vì đó thuộc về Tinh Thần Truyền Thống của Việt Tộc chống Đế Quốc Tầu. Đã là người Việtnam, còn có tâm thức Việtnam, trong người còn chút Di Thức Việt Tộc, thì ngay như người cộng sản gộc Võ Nguyên Giáp, cha, chú của bọn Mancộng Nông Đức Mạnh, Lê Hồng Anh, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng… khi nhìn thấy bọn con cháu Mancộng vong bản của mình, cam tâm thực hiện kế hoạch “tàm thực” Việtnam của Trungcộng, cũng phải đau lòng, lên tiếng can gián. Đừng nói gì đến những người trẻ tuổi còn đầy nhiệt huyết đã từng bất chấp đe dọa lao xuống đường lên án Trung cộng xâm chiếm đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam hồi tháng 9-2008.

Để phòng ngừa biến cố loạn động lật đổ chính quyền, bọn Mancộng Hànội đã ra lệnh cho Ban Tuyên Giáo Trung Ương phải làm mọi cách để khống chế triệt để các cơ quan ngôn luận của Đảng, tìm cách bỏ tù những ký giả cứng đầu. Đồng thời thiết lập một bộ biên tập đặc biệt, viết ra những bài báo nhằm đánh phá các Tôn Giáo đấu tranh ở trong và ngoài nước, gây mâu thuẫn nghi kị giữa những người dám đấu tranh đòi Dân Chủ. Do đó mới có những bút hiệu như: Thích Viên Giáo. Thích Siêu Phương, Trần Đại Lĩnh, Như Thuyết, Tâm Nguyện, Trần Lý, Tâm Không, Thấu Tâm Can, Võ Văn Hàm … và nhiều nhóm xuất hiện trên mạng tự nhận là chống cộng cực đoan, nhưng trong đó chủ điểm là dùng ngôn ngữ độc địa chống phá các tôn giáo, chống hết người này tới người khác, rồi gây ra các cuộc binh, chống lẫn nhau trong giới chống cộng hải ngoại một cách hăng say cuồng nhiệt. Khiến cho dư luận trong và ngoài nước rơi vào trận hỏa mù, không còn kịp nhận ra những việc làm lén lút mờ ám của bọn Mancộng Hànội đang tiếp tay thực hiện kế hoạch từ từ xâm lăng của Tầucộng tại Việtnam.

Chính vì vậy mà Ban Tuyên Giáo Trung Ương mới được làm kẻ có công đầu trong chiến dịch thôn tính Việtnam của Trungcộng. Trưởng Ban Tuyên Giáo là Tô Huy Rứa đã được Hội Nghị Trung Ương khóa 9 nâng cấp thành ủy viên Bộ Chính Trị thứ 15. Trước Đại Hội X, vai trò của Ban Tư Tưởng Văn Hóa vẫn do một ủy viện Bộ Chính Trị đầy quyền lực đảm trách, nay coi như đã lỗi thời, hết xài. Nên cộng đảng đã hạ xuống thành Ban Tuyên Giáo Trung Ương do một ủy viên Trung Ương điều khiển. Đến giờ, nhờ công tác khống chế dư luận hữu hiệu đã đưa Ban Tuyên Giáo trở lại Bộ Chính Trị. Xem vậy sự tồn tại của chế độ độc đảng, độc tài toàn trị Việtcộng có còn duy trì lâu nữa hay không, đều trông cậy vào Ban Tuyên Giáo Trung Ương có đủ mưu lược khống chế nổi dư luận trong, ngoài nước hay không? “Biết người biết mình, trăm trận trăm thắng”. Nay thì những người làm truyền thông và đấu tranh cho tự do dân chủ đã biết thật rõ, những sự đánh phá lẫn nhau giữa những người chống cộng ở trong và ngoài nước đều do Ban Tuyên Giáo Trung Ương sách hoạch, khiến chúng ta quên đi những việc buôn dân, bán nước của bọn Mancộng Hànội, giúp chúng dựa hẳn vào Bắc Kinh, và nương vào chính sách thuận thảo với Trungcộng của Mỹ mà tồn tại.

Little Saigon ngày 03-02-2009.

Lý Đại Nguyên

Suốt cả năm, chúng ta bị cuốn hút vào những vấn đề thời sự, làm cho tâm tư, đầu óc luôn luôn quay cuồng với những chuyện khổ đau, âu lo, tức tối, buồn cười, đôi khi vui mừng, hy vọng, rồi hụt hẫng, mà không biết tại sao lại là thế? Hoặc tìm những lý giải nửa vời, vòng vo để tạm thời tự đánh lừa mình. Hay chống đỡ những gì đi ngược lại với suy nghĩ và ước vọng của mình. Quả là phiền toái! Nhân dịp xuân về, tết đến, xin đề nghị, chúng ta cùng nhau đi thẳng vào vấn đề nguồn gốc của sự vật, sự việc trong Trời Đất, Lịch Sử và Kiếp Người, để cho tâm trí mình có dịp thao tác, tự tìm thấy mình, tìm thấy hướng suy tư cho mình, cũng chính là thấy được những việc mà mình nên làm cho Mình, cho Dân Tộc Mình, cho Thế Giới Mình, và cho Vũ Trụ mà Mình đang có mặt.

TA TRONG VŨ TRỤ MÀ VŨ TRỤ CŨNG Ở TRONG TA
Đạo Lớn của Trời Đất là Hằng Hóa.
Đức Lớn của Muôn Loài là Hiếu Sinh.
Đạo Lớn của Lịch Sử là Văn Hóa.
Đức Lớn của Loài Người là Từ Tâm.
Đạo Lớn của Nhân Chủ là Dung Hóa.
Đức Lớn của Con Người là Thương Yêu.
Vậy Đạo Đức lớn nhất, vĩ đại nhất, chân thật nhất, hiện thực nhất của Vũ Trụ là Đạo Hằng Hóa và Đức Hiếu Sinh.

Đạo Đức chân chính nhất, phổ biến nhất, năng động nhất của Lịch Sử là Đạo Văn Hóa và Đức Từ Tâm.

Vũ Trụ này hình thành phát triển không ngừng đều nhờ vào Nguyên Lý Hằng Hóa Hiếu Sinh.

Lịch Sử Loài Người cũng dựa trên Nguyên Lý đó mà thành hình phát triển, rồi vượt lên trên các sinh loại hữu tình, tạo thành cuộc sống Văn Hóa Nhân Văn.

Vậy Văn Hóa chính là Đạo Thăng Hóa của Lịch Sử, để mở ra thời đại Nhận Thức Nhân Chủ Nhân Văn cho toàn thể Thế Giới.

Văn Hóa là Văn Hóa của Loài Người, mà Đức Lớn phổ quát của Loài Người là Từ Tâm nơi Con Người. Nhận Thức của Con Người đều dựa trên Nguyên Lý của Đạo Đức để rung cảm, suy tư, hành xử, mà tạo ra các nền Văn Hóa có những sắc thái riêng biệt. Các luồng văn hóa, các công trình văn hóa, các sản phẩm văn hóa, đều nhằm phụng sự Con Người, làm đẹp, sáng, tốt và luôn luôn mới cho cuộc sống Xã Hội của Con Người toàn diện. Bởi thế Lịch Sử Nhân Loại mới là lịch sử đa văn hóa. Nên nội dung của Lịch Sử phải là Văn Hóa, mà nội dung của Văn Hóa phải là Từ Tâm của Nhân Loại, do khả năng Dung Hóa của những Con Người tự do, tự chủ, sáng tạo và dựa trên tình cảm thương yêu của Con Người toàn diện, mà tạo thành các nền Văn Hóa Nhân Chủ Nhân Văn.

Chính vì vậy, Văn Hóa và Đạo Đức tuy Hai mà là Một. Do Đức Hiếu sinh của Trời Đất, mà Nguồn Động Lực Siêu Thể Vi Diệu vô sắc, vô biên, vô hạn trong Vũ Trụ hằng hóa, hiện hóa, thăng hóa từ những chuyển động vật lý, đã không ngừng nỗ lực tạo ra các hiện tượng hữu thể, rồi sinh lý để hoàn thành thế giới sinh vật. Các sinh vật tự thân thăng hóa, tạo thành các loại chủng tử có năng lực cá biệt -DNA- của mỗi chủng loại, mà tiếp hóa nòi giống của mình không cùng. Loài Người được xem như chủng loại cao nhất trong công trình Tạo Hóa, hằng hóa, sáng hóa, thăng hóa của Vũ Trụ, đủ khả năng, điều kiện tạo lập đựơc hiện tượng tâm lý, để vượt lên rung ứng với thế giới tâm linh vĩnh hằng của Vũ Trụ. Rồi có giác tính nhận biết được “Ta trong Vũ Trụ, mà Vũ Trụ cũng ở trong Ta”. Nên những nỗ lực Tự Thăng Hóa Tâm Linh mình, cũng chính là góp phần tích cực nhất trong công trình Thăng Hóa Vũ Trụ Vạn Hữu vậy.

Từ Đức Hiếu Sinh của Muôn Loài, thể hiện ra thế giới Loài Người là Đức Từ Bi, Nhân Từ, hay Đức Bác Ái, đấy là những danh từ để chỉ cho những ý niệm về sự thương yêu, bao dung, tha thứ và quý trọng sự sống, biết trân quý cuộc sống riêng của mình, tôn trọng cuộc sống chung của người, có trách nhiệm với cuộc sống xã hội và muôn loài. Chính vì vậy mà các nền Văn Hóa, các Tôn Giáo chân chính, các Học Thuyết giá trị đều lập căn trên Đức Hiếu Sinh, nhằm hướng dẫn Con Người biết sống và phát triển theo với Đức Hiếu Sinh.

Chỉ riêng có Học Thuyết Duy Vật Vô Thần Cộng Sản mới nghịch lại với Đạo Đức của Trời Đất, ngược lại với Lẽ Sống của Con Người, hủy diệt Văn Hóa của Nhân Loại, đề cao luật Mâu Thuẫn, Hận Thù, và Hủy Diệt, vốn chỉ là một mặt tối của Nguyên Lý Hằng Hóa, là phản diện của Văn Hóa. Vì Nguyên Lý Hằng Hóa của Vạn Hữu là Luật Bổ Sung – Phân Hóa – Điều Hợp, mà Duy Vật chỉ đề cao khả năng Phân Hóa. Phân Hóa mà không được Điều Hợp thì đi đến tiêu diệt. Điều Hợp mà không đựơc Bổ Sung thì không thể Thăng Hóa, đã không thăng hóa, mà bị phân hóa thì sẽ bị triệt tiêu. Nhờ có Luật Bổ Sung, Phân Hóa, Điều Hợp để Thăng Hóa, nên Vũ Trụ mới Hằng Hóa, muôn loài mới tiến triển, nhân loại mới có cuộc sống Văn Hóa hiện nay.

Điều nguy hại của chủ nghĩa Duy Vật không dừng lại ở mặt lý thuyết, mà nó đã làm cho nhiều thế hệ loài người tin theo, kể cả người đối kháng cũng bị rơi vào lối nhận thức chủ quan một chiều máy móc khép kín. Vì nó được dùng làm nguyên tắc chỉ đạo cho cuộc đấu tranh xã hội, phân chia giai cấp, tổ chức lực lượng đấu tranh cách mạng giành quyền lực, để áp dụng chủ nghĩa một chiều độc tôn, nhằm tước đoạt sự tự do của Con Người, biến Con Người thành “con vật sản xuất”, đặt ách độc tài, độc đảng thống trị xã hội. Chính vì chủ trương giai cấp đấu tranh, nên cộng sản đã tận lực khai thác và phát huy Cảm Tính Hận Thù, quyết liệt Tiêu Diệt những giai cấp khác, cũng như tiêu diệt tinh thần tự do, tư hữu và niềm tin tôn giáo của Con Người. Mà hận thù là phản nghĩa với từ bi, nhân từ, bác ái, yêu thương. Tiêu diệt là phản nghĩa với xây dựng và phát triển. Như thế chủ nghĩa Duy Vật Cộng Sản đúng là hướng ngược chiều với Văn Hóa Nhân Loại. Nên học thuyết Duy Vật và chủ nghĩa Cộng Sản mới là Phi Văn Hóa.

Văn Hóa nơi Con Người, của các Dân Tộc, của các nền Văn Minh và của toàn Nhân Loại, tuy có những nét cá biệt, đặc thù, nhưng đều cùng có chung một bản chất, tính năng là: Đẹp, Tốt, Sáng, Mới, đó mới thật là thể hiện của Văn Hóa Tính phổ quát và đạt giá trị trường cửu. Đẹp, Tốt, Sáng từ nội dung lẫn hình thức ở Con Người, trong Xã Hội và các công trình, sản phẩm được tạo ra, sáng hóa bởi Con Người. Thế rồi người sau tiếp người trước bảo lưu, dung hóa, phát huy, làm mới thêm mãi cho phong thái sống, cách sống, lối sống, phương tiện sống và chế độ sống, với khuynh hướng sống vươn lên Toàn Chân, Toàn Thiện, Toàn Mỹ.

Để giải thích chân lý, gần được chân lý, đạt được chân lý, vốn là một thách đố với suy tư của Con Người và toàn thể Loài Người, ở ngay từ buổi bình minh của Ý Thức Người vừa xuất hiện. Xem ra trong quá khứ Ý Thức Người đã bất lực trước thách đố đó. Vì rằng những công trình suy tư bằng ý thức người, đã chỉ tạo ra được những luồng tư tưởng, những triết phái cực đoan khép kín, các chủ nghĩa một chiều “Duy” thế này, thế nọ, thế kia, do đó đã xé nát nhân loại ra làm nhiều mảnh, dựng lên những hàng rào tinh thần hào nhoáng, rồi được ngụy trang dưới danh nghĩa Văn Hóa, Đạo Đức để lùa dân chúng vào guồng cuồng tín, thế hận thù nhau vì lý tưởng một cách cay độc, làm cho chân lý Hằng Hóa Hiếu Sinh mỗi lúc mỗi xa rời Con Người thêm. Thực ra Chân Lý tuy có thể Giác Chứng, mà chẳng thể Lý Luận bằng bất cứ thứ “duy” nào được. Bởi vì Chân Lý mang tính cách vừa toàn diện, vừa bao trùm, lại vừa nội tại nơi Vũ Trụ, Vạn Hữu và Con Người, gồm: Những hiện tượng Hợp Lý Tương Đối, nếu xét về mặt hiện tượng thực tiễn của sự vật, sự việc. Những hiện tượng Siêu Lý Tuyệt Đối, nếu xét về những hiện tượng siêu nhiên linh nghiệm trong vũ trụ trùng trùng bao la. Những hiện tượng Phi Lý Tự Đối, ngẫu nhiên xuất hiện bất quy tắc trong tự nhiên, và do tâm tư chủ quan của mỗi người, khám phá ra trong cuộc hành trình đi tìm sự hiện hữu của mình, rồi gặp cái chết của mình ở cuối đường hiện hữu, làm cho tất cả công sức trong cuộc sống trở thành phi lý và vô nghĩa đối với thân phận của chính mình.

Tuy nhiên, những tư tưởng, những chủ thuyết “duy” đó, dù có một chiều khép kín, nhưng nếu không đi ngược với hướng vươn lên Toàn Chân, Toàn Thiện, Toàn Mỹ của Con Người, thì đều cùng hướng với Văn Hóa, đều đựơc thừa nhận có Văn Hóa Tính. Vì ít nhiều đã góp phần trong việc giúp Con Người khai mở một phía nào đó, trong nguồn tâm tư toàn diện sẵn có nơi mỗi người. Chính Nguồn Tâm Tư Toàn Diện sẵn có trong mỗi người là nền tảng của Văn Hóa, dung chứa tất cả các ý niệm, những tư tưởng trái nghịch nhau, để Con Người tự do, chủ động dung hóa, đãi lọc lấy tinh túy của những tư tưởng đó, làm thành các nền Đạo Học, đem ra ứng dụng vào cuộc sống, tạo ra các phương tiện sinh sống, mỗi ngày mỗi hoàn hảo hơn, nhằm phục vụ Con Người và Xã Hội.

Ngày nay, sau khi Nhân Loại đã tỉnh mộng về những lối Ý Thức Chủ Quan Duy Ý Chí, đã nếm trải và bị trả giá quá đắt do những tư tưởng đó gây ra, thì đều thấy rằng: Thế Giới cần phải được xây dựng và phát triển dưới nhãn quan toàn diện, cho hợp với Đức Lý của Trời Đất, đúng với Văn Hóa Tính của Nhân Loại cùng hướng tới cảnh Thái Hòa, Phát Triển, Thịnh Vượng lâu bền. Điều hiển nhiên là Nhân Loại đang tiến vào hướng chính đạo của nền Nhận Thức Nhân Chủ Nhân Văn Toàn Triển, trong đó lấy Con Người Tự Do, Tự Chủ, Sáng Tạo làm Cứu Cánh. Lấy Văn Hóa làm Chủ Đạo cho khắp mặt tổ chức và sinh họat Xã Hội, Kinh Tế, Dịch Vụ, Chính Trị, Cai Trị, Luật Pháp, Văn Học, Nghệ Thuật, Khoa Học, Kỹ Thuật, cũng như việc giao tiếp giữa Người với Người; giữa Tập Thể với Tập Thể trong Xã Hội; giữa Quốc Gia với Quốc Gia trên trường Quốc Tế.

THĂNG HÓA TÂM LINH MÌNH LÀ LÀM MỚI CHO TẤT CẢ

Con Người thực sự có Tự Do, hoàn toàn Tự Chủ trong suy tư, hành động ứng xử, thì mới phát triển được khả năng Sáng Tạo. Chính khả năng Sáng Tạo đã làm cho Văn Hóa mỗi lúc mỗi Tốt Đẹp Sáng Mới thêm. Để Văn Hóa thể hiện đúng hướng Toàn Chân, Toàn Thiện, Toàn Mỹ, thì không thể làm khác là phải vận dụng tới năng lực Trí Tuệ của Con Người. Mỗi người đều sẵn có Trí Tuệ, nhưng để khai mở được khả năng Trí Tuệ ở trình độ nào đó, thì còn tùy ở sự học tập, thâu thái, và quan trọng nhất là ở sự Tu Dưỡng của mỗi người.

Có thể có nhiều phương pháp tu dưỡng để phát huy Trí Tuệ, nhưng để có nghiệm chứng cụ thể, thì phương pháp Thiền của các bậc đã Giác Ngộ là dễ kiểm chứng nhất. Các vị đó đã hướng dẫn thế cách Quán Định, làm bình ổn Tâm Tư, xả bỏ tạp niệm, vui vẻ buông bỏ tất cả, giúp người tu tập đạt đựơc An Nhiên Tự Tại, Thanh Tịnh Rốt Ráo, tạo điều kiện cho Trí Tuệ khai mở. Trí Tuệ tuy được khai mở, nhưng không có nghĩa là đã có đủ công năng nhận biết ngay được chân tướng chân thật của Thực Tại, mà còn phải kiên trì Phá Chấp, tháo bỏ những xích xiềng tư tưởng một chiều cực đoan, rũ bỏ những mặc cảm tự ti, tự tôn; xả bỏ những ý niệm, những thành kiến cả xấu lẫn tốt. Có nghĩa là vui vẻ buông xả, buông xả và buông xả toàn diện rốt ráo, ngay cả chính niệm, đừng nói chi là tà niệm; buông xả ngay cả những cảnh giới an lạc chân thật đã đạt đựơc trong hành trình tu tập, nhằm đoạn trừ những cảm thụ của Ta, thuộc về Ta và chỉ có Ta.

Chính trong hành trình phá chấp và buông xả đó, năng lực Trí Tuệ sáng mãi lên, tựa như ánh nắng ban mai làm bung nở hạt giống Từ Bi nơi Con Người, khi Lực Trí Tuệ, Đức Từ Bi đã nở trọn vẹn viên mãn nơi Con Người, thì Con Người chẳng còn chấp giữ “Cái Ngã” nhỏ bé tủn mủn, sẽ không còn phải dùng phương tiện suy tư, lý luận để tìm kiếm, biện minh cho Chân Lý của Vũ Trụ, Đức Lý của Vạn Hữu nữa, mà thực tại là Lực Trí Tuệ, Đức Từ Bi nơi Con Người đã là biểu hiện của Chân Lý, Đức Lý của Trời Đất một cách chân thật trọn vẹn đầy đủ rồi. Cho nên không có gì lạ, không còn nghi ngờ gì nữa, những lời nói ra từ các bậc Toàn Giác, đều là những lời của Chân Lý.

Khi Trí Tuệ Từ Bi đã hiển hiện viên mãn trong Con Người, là Con Người đã hội nhập đựơc với Đạo Lớn Hằng Hóa, Đức Lớn Hiếu Sinh của Trời Đất, thì việc thể hiện Trí Tuệ Từ Bi của Con Người trong kiếp nhân sinh là lẽ tự nhiên, như ánh sáng phải chiếu sáng. Đó là những đóng góp đương nhiên vào với gia tài Văn Hóa Nhân Loại, có giá trị đưa Văn Hóa vươn mãi lên Toàn Chân, Toàn Thiện, Toàn Mỹ. Mà Văn Hóa luôn luôn sắm vai trò chủ đạo, chỉ đạo cho toàn thể Nhân Loại cùng nhau nỗ lực khai triển cuộc sống Nhân Chủ Nhân Văn, để Con Người được Tự Do Tự Chủ Sáng Tạo, thực hiện nguyện ước chân chính của mình trong thực tại thế giới, đồng thời thăng hóa Tâm Linh mình, nhằm đạt tới tánh cảnh Toàn Chân, Toàn Thiện, Toàn Mỹ.

Đến đây có thể hiểu được, tại sao trong Xã Hội do Cộng Sản thống trị lại sa đọa tăm tối như lịch sử đã chứng minh trong thế kỷ 20 vừa qua. Vì đích ra các danh từ Văn Hóa, Đạo Đức, mà Cộng Sản thường dùng, thì chính ngay những kẻ sử dụng nó, lại cũng chẳng hiểu nổi là họ đã lạm dụng. Cho nên Thế Giới Cộng Sản và Cộng Đảng Việt Nam đứng trước sự đổ dốc, tan vỡ, suy đồi của xã hội, đảng viên trụy lạc, dân chúng mất niềm tin, đều thấy rằng cần phải phục hồi giá trị Văn Hóa, Đạo Đức mới cứu vãn nổi chế độ ung thối ruỗng nát. Nhưng điều đáng buồn cho họ là những giá trị văn hóa, đạo đức chân chính đích thật của Trời Đất, của Loài Người, của Dân Tộc đã không hiện hữu trong đầu họ. Tất cả những giá trị đó đã bị chính thứ chủ thuyết Duy Vật, chủ nghĩa Mác Lê và Tư Tưởng Hồ, là thứ chủ thuyết ấu trĩ, chủ nghĩa chuyên chính và thứ tư tưởng hoàn toàn nô lệ ngoại nhân của họ Hồ, mà cộng đảng cho là siêu việt, là chân lý tuyệt đối đã tiêu diệt hết, tiêu diệt ngay trong suy tư của chính họ, và trong xã hội mà họ đã, đang thống trị.

Trong suy nghĩ của những người gọi là cộng sản chân chính và không chân chính hiện nay, thì đều cùng có sẳn một đường rầy biện chứng: “Tất cả đều là phương tiện”, Văn Hóa Đạo Đức, cả Con Người lẫn Dân Tộc chỉ là phương tiện cho họ sử dụng; trước kia là phương tiện để phục vụ cho lý tưởng Duy Vật, Cách Mạng Xã Hội Chủ Nghĩa, nay lý tưởng đó đã tiêu ma, thì lại thành phương tiện để củng cố quyền hành, nhằm mục đích hết sức thực tế là “duy vật chất” “duy tiền”. Chính vì toàn cộng đảng từ trên xuống dưới chỉ có mục đích “duy tiền”, nên mạnh kẻ nào, kẻ đó kiếm tiền một cách bất cố liêm sỉ, bất kể luật pháp, bất chấp đạo đức, trong khi đó người dân là nạn nhân bị đè nén, bóc lột và bị cấm nghe, cấm nói, chỉ để đảng độc quyền nói, mà chỉ toàn nói ngang, nói ngược, nói bậy thôi.

Đời thuở nào mà đem nước trộn với lửa, rồi bắt mọi người phải tin là thành công, thì tin sao nổi. Thế mà cộng sản cứ nhơn nhơn hô hoán: “Kinh tế Thị Trường Tự Do theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa”. Lấy Kinh Tế Thị Trường Tự Do vốn là “nước”, mà trộn chung với “lửa” Xã Hội Chủ Nghĩa, thì sớm muộn gì lửa xã hội chủ nghĩa cũng phải tắt. Lấy “nước” Văn Hóa Đạo Đức đem trộn với “lửa” Hận Thù Hủy Diệt của chủ nghĩa Mác Lê và tư tưởng nô lệ của Hồ, thì “lửa” phải tàn là cái chắc. Thực ra những kẻ đề xướng những chủ trương trên, họ đều là kẻ đáng thương, vì chế độ cộng sản đã đào tạo ra những bộ óc “bùn” đặc quánh của những chú vẹt lẻo mép, họ không bao giờ hiểu được rằng: Thứ chủ nghĩa Duy Vật mà họ tôn thờ chẳng những không có Văn Hóa Tính, mà ngay giá trị Đạo Đức cũng không có luôn. Thế nhưng họ lại đã được học và bắt buộc phải hiểu rằng: Học thuyết Duy Vật và những sách vở viết về học thuyết này là những tác phẩm Học Thuật của Văn Hóa.

Chính vì hiểu sai như thế, nên họ chỉ có khả năng phá hủy, mà không có năng lực xây dựng, vì tất cả các công trình xây dựng, muốn được thành tựu lâu dài với lịch sử, thì phải khởi đi từ Văn Hóa. Nhất là phải phân biệt được rằng: Những thứ tuy bề ngoài có bóng dáng của các công trình Văn Hóa, mà nội dung đi ngược với Văn Hóa Tính, đi ngược với hướng vươn tới của Văn Hóa toàn chân, toàn thiện, toàn mỹ, chống lại với Đạo Hằng Hóa, Đức Hiếu Sinh của Trời Đất, bằng chủ trương Hủy Diệt, đề cao Hận Thù thì đó không thể được nhìn nhận là công trình Văn Hóa, mà chỉ còn là sản phẩm “Sai Ác”.

Những người cộng sản, nếu thực sự muốn quay trở về với truyền thống tốt đẹp của Văn Hóa và Đạo Đức của Dân Tộc và Loài Người, thì phải thực tâm chân thành loại trừ chủ thuyết Duy Vật, chủ nghĩa Mác Lê và tư tưởng nô lệ của Hồ ra khỏi tư tưởng của mình, dẹp ngay những cơ chế, cơ cấu, luật lệ độc đảng, độc tài, độc tôn, toàn trị, khủng bố, bóc lột của chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, để cho chính mình và toàn dân đựơc tự do sống, tự do lựa chọn, tự do tin tưởng, tự do phát biểu, tự do xây dựng tòa nhà Dân Chủ Trọng Pháp trong sáng bền vững cho Đất Nước, thì những giá trị truyền thống Văn Hóa Đạo Đức cao đẹp của Dân Tộc, chắc chắn sẽ được toàn dân đem ra ứng dụng và phát huy ngay trong cuộc sống của mình và của xã hội.

Chủ nghĩa cộng sản tuy không có Văn Hóa Tính, nhưng đối với lịch sử Dân Tộc Việt và Nhân Loại thì nó đã tự khẳng định và xác lập được chỗ đứng riêng biệt. Chỗ đứng trong kinh nghiệm đau thương khủng khiếp của các nạn nhân, đó là thứ “Hỏa Ngục Trần Gian”. Chỗ đứng trong Văn Học là những lời răn đe sẽ nhắc nhở cho Nhân Loại chớ để cho nó xuất hiện thêm bất cứ lần nào nữa, dù dưới hình thái nào cũng vậy. Chỗ đứng trong Nghệ Thuật thì hấp dẫn hơn. Vì cộng sản đã sắm đúng vai trò phản diện độc ác gian trá, một cách trung thực, xuất sắc nhất trong các tác phẩm nghệ thuật, mà các nhân vật hung ác, các chế độ tàn bạo ở trong quá khứ chưa hề lột tả đựơc hết tính cách cay độc hung hãn như thế. Còn trên màn ảnh và sân khấu thì đây đúng là tên kép độc làm cho khán giả vừa sợ vừa ghét, chỉ mong cho hắn chóng chết, tuy biết rằng hắn mà chết thì màn phải hạ, vở tuồng phải kết thúc. Nếu các văn tài trong thiên hạ muốn cực tả chân thật, hiện thực về “cái ác toàn diện” trong lịch sử Loài Người, thì phải nghiên cứu về chế độ cộng sản, nhất là về cộng sản Việt Nam thì sẽ nắm vững đựơc những tính chất đặc thù của nó là vừa độc ác, vừa tàn nhẫn, vừa ngoan cố, vừa gian manh, vừa hài hước, vừa đần độn một cách đáng ghét của anh kép độc Việt Cộng.

Tóm lại Văn Hóa và Đạo Đức là nội dung của Tâm Linh Con Người, nội dung của Lịch Sử Dân Tộc và Nhân Loại. Mà Đạo Đức lại là nội dung của Văn Hóa, nên Văn Hóa luôn luôn phải sắm vai trò Chủ Đạo nhằm chỉ đạo cho mọi sinh hoạt của Con Người và Xã Hội, Kinh Tế, Dịch Vụ, Chính Trị, Cai Trị, Luật Pháp, Văn Học, Nghệ Thuật, Khoa Học Kỹ Thuật thì Thế Giới mới đi đúng hướng hòa bình xây dựng phát triển, tránh khỏi loạn lạc, bất công, tụt hậu.

MÙA XUÂN KỶ SỬU 2009
LÝ ĐẠI NGUYÊN.

Lý Đại Nguyên

Tham quyền cố vị là bản chất của các nhà thống trị. Dù mọi người đều biết rõ cuộc đời vốn vô thường đầy khổ đau, kiếp sống của mỗi người rất mong manh, cái chết đi song hành với sự sống và cuối cùng thì sớm hay muộn thần chết cũng sẽ reo vang chiến thắng. Biết thế, nhưng với ý chí hằng vượt của khuynh hướng vươn lên của tâm linh và ý thức Con Người, mỗi người đều thấy có bổn phận góp sức xây dựng cuộc sống chung, nên mới có những người phát tâm tranh đấu “cứu người, giúp đời” với một tâm hồn và lý tưởng rất thánh thiện, muốn có quyền hành để thực hiện những nguyện ước cao đẹp đó. Nhưng khi có quyền thế rồi thì thường bị rơi vào guồng máy tranh chấp, để bảo vệ quyền hành và lợi nhuận cá nhân, phe nhóm. Ít người biết tự hồi đầu, hay là tự nhìn thấy những sai trái của mình để tu sửa. Những lý tưởng cao đẹp trước kia, chỉ còn là những khẩu hiệu rỗng tuếch. Lúc đó họ chỉ thấy mình mà không thấy dân. Họ coi dân là đám nô dịch để phụng sự cho tham vọng trường trị của mình, tận tình khai thác sức dân để phục vụ cuộc sống đế vương của mình, của con cháu, dòng tộc, phe cánh, bè đảng của mình. Đó là nội dung và là bản chất của các chế độ Quân Chủ Phong Kiến. Độc Tài Cá Nhân. Độc Tài Đảng Trị.

Những chế độ bá đạo, bạo trị, quaí ác trên đã tạo ra các giai đoạn lịch sử chiến tranh và khủng bố đầy máu và nước mắt của người dân lành vô tội. Qua bao trắc nghiệm thực tế, với nhiều hy sinh, cuối cùng Nhân Loại đã tìm ra được sinh lộ đó là chế độ Dân Chủ Tự Do, với phương pháp thay đổi kẻ cầm quyền một cách ôn hòa, êm đềm, bằng các cuộc bầu cử tự do phổ thông công bằng. Thế nhưng cho đến nay, có nhiều nước vẫn còn bị các thế lực độc tài tước đoạt Quyền Tự Do và Quyền Dân Chủ của người dân, qua các cuộc bầu cử gian lận, hoặc ngang nhiên cướp đi quyền quyết định tối hậu của công dân, để ghi vào Hiến Pháp cho đảng của mình được toàn quyền lãnh đạo quốc gia vô trách nhiệm, vô thời hạn, không cần dân bầu, dân chấp thuận, như chế độ Việtcộng hiện nay. Rồi làm ra thứ luật “đảng cử, dân bầu”, tuỳ tiện cướp mất quyền tự do lựa chọn người cầm quyền của công dân. Chính vì vậy mà các cuộc thay đổi người cầm quyền ở mỗi nơi, mỗi lúc luôn luôn diễn biến phức tạp khác nhau.

Trong năm 2008, một cuộc thay đổ chế độ và người cầm quyền có Văn Hóa Tính thánh thiện nhất trong lịch sử hiện đại, đó là tại Vương Quốc Bhutan nhỏ bé trong vùng Hy Mã Lập Sơn. Quốc vương Jigme Singye Wangchuk, trước khi truyền ngôi cho con là vua Jigme Khesar Namgyal Vangchuk, Ngài đã trao hết quyền cho một Nội Các, và cho Quốc Hội được quyền đàn hạch Nhà Vua. Từ đó nước Bhutan bước vào sinh hoạt chính trị tự do đa đảng, phát triển kinh tế dựa trên phúc lợi của toàn dân – Gross National Happiness - Đây gọi là chủ trương đổi mới của Thái Thượng Hoàng và có sự đóng góp của ông Jigmi Thinley. Rồi năm 2008, qua một cuộc bầu cử Quốc Hội Dân Chủ thực sự tự do công bằng trong sáng, đảng đối lập của ông Jigmi Thinley đại thắng. Quốc vương Jigme Khesar Namgyal Vangchuk vẫn là Tổng Tư Lệnh quân đội, và được quyền chỉ định 5 Nghị Sĩ tại Thượng Viện. Bhutan vốn là một quốc gia phong kiến lạc hậu đã bước vào cuộc sống Dân Chủ Tự Do, tôn trọng Nhân Quyền trong sáng là nhờ công của các nhà lãnh đạo biết nhìn xa trông rộng, không tham quyền cố vị, luôn luôn bìết đặt quyền lợi quốc dân và uy thế quốc gia lên trên địa vị, quyền lợi cá nhân, gia đình, phe cánh, đảng phái; tận dụng quyền hành hiện có trong tay để Dân Chủ Hóa đất nước. Đây là một bài học đáng giá cho chính quyền của những nước độc tài, mà lòng dân và thế nước đang có nhu cầu khẩn thiết là phải Dân Chủ Hóa chế độ.

Cuộc bầu cử ở Mỹ ngày 04/11/08, lần đầu tiên, trong lịch sử 232 năm lập quốc, cử tri Hoakỳ đã chọn bầu cho một thanh niên da đen là Barack Obama vào ghế Tổng Thống Hiệp Chúng Quốc, mà trước đó ít ngày, không mấy ai tin phép lạ đó xẩy ra. Tuy thế lực tiền bạc và truyền thông của Mỹ và của cả Thế Giới đều đổ dồn vào ủng hộ cho ông Obama. Dĩ nhiên là sau 8 năm cầm quyền của đảng Cộng Hòa thì ưu thế thắng cử kỳ này đã nằm về phía đảng Dân Chủ. Nhưng đảng Dân Chủ lại lựa một Nghị Sĩ thanh niên da đen, vừa mới gia nhập chính trường không lâu, để tranh cử với một vị Nghị Sĩ lão thành da trắng của đảng Cộng Hoà thì rõ là 2 bên đồng sức nhau rồi. Với một thể chế Dân Chủ Phân Nhiệm Trọng Pháp, có sinh hoạt Lưỡng Đảng ngang sức để kiểm soát nhau, và Hệ Thống Truyền Thông Tư Nhân hoàn toàn tự do, nhằm giám sát chính quyền, đã vận hành vào nếp sống dân chủ trưởng thành Mỹ lâu đời. Do đó các ứng cử viên được quyền hứa rất nhiều, mà thay đổi chẳng được bao nhiêu. Có lẽ hiểu rõ như thế, nên cử tri yên tâm bầu cho bất cứ người nào, thì cũng không thể đi ra ngoài chính sách Lưỡng Đảng của Mỹ được. Nhờ đó một thanh niên da đen thân cô, thế cô mới được cử tri Mỹ bầu vào chức Tổng Thống Mỹ, và đương nhiên cũng là Vị Lãnh Đạo số 1 toàn thế giới. Từ đây dư luận khó tính quốc tế không thể cho Hoakỳ là một quốc gia kỳ thị chủng tộc được nữa.

Sau cuộc đảo chánh quân sự lật đổ thủ tướng dân cử Thái Lan Thaksin Shinawatra, năm 2006. Ông bị cáo buộc là tham nhũng. Quân đội Thái đã phục hồi nền Dân Chủ. Ông Samak Sundaravej người thuộc phe Thaksin được bầu vào ghế thủ tướng. Ông ta bị phe đối lập và dân chúng đô thị măc áo vàng, tràn xuống đường biểu tình phản đối, chiếm đóng tòa nhà chính phủ. Quân đội không can thiệp. Cuối cùng Tòa Án đưa ra phán quyết là ông Samak đã phạm tội làm một công việc mà thủ tướng bị cấm, buộc phải mất chức. Người anh rể của Thaksin là Somchai Wongsawat được đảng Quyền Lực Nhân Dân (PPP) đưa lên làm thủ tướng. Phong Trào dân chúng Thái Lan lại càng quyết liệt ồ ạt xuống đường dữ dội hơn. Cuối cùng Toà Án Hiến Pháp Thái Lan đã ra phán quyến giải tán đảng PPP, và cấm lãnh đạo đảng này, kể cả thủ tướng Somchai không được hoạt động chính trị 5 năm, vì phạm tội gian lận bầu cử. Hiện nay tân thủ tướng Thái Lan, Abhisit Vejjajiva thuộc phe đối lập với Thaksin được bầu làm thủ tướng. Nhưng phe áo đỏ thân Thaksin lại tràn xuống đường phản đối, đòi phải bầu cử Quốc Hội mới. Thái Lan đang rơi vào tình thế “Áp lực đường phố” nhằm thay đổi chính quyền. Nếu chính phủ Abhisit vượt qua được cơn thử thách này và chính giới Thái biết tự chế thì nền Dân Chủ Lưỡng Đảng của Thai Lan có cơ thành hình.

Cuộc thay đổi cuối cùng trong năm 2008, diễn ra tại nước Guinea thuộc Phi Châu. Sau 24 năm cầm quyền Tổng Thống, nhà độc tài Lansana Conte qua đời. Đại úy Moussa Camara làm cuộc đảo chánh quân sự. Ông hứa thực hiện chế độ Dân Chủ, và trong vòng 2 năm sẽ tổ chức bầu cử tự do, mà ông không ra tranh cử. Nếu ở các xứ độc tài, mà quân đội làm đảo chính chỉ để tạo điều kiện Dân Chủ Hóa Chế Độ, mà không tham muốn cầm quyền, đó là đại phúc của toàn dân rồi vậy. Heppy New Year .

* Little Saigon ngày 30/12/2008.

Lý Đại Nguyên

Trong khi Nhân Loại từ Đông sang Tây, nô nức hân hoan mở hội bắn pháo bông đón mừng năm mới, với niềm hy vọng về một thế giới hòa bình yên vui phát triển. Nhưng tại vùng Trung Đông, năm mới lại được bắt đầu bằng một cuộc phi cơ oanh tạc dữ dội của Israel vào dải Gaza, và trận bắn hỏa tiễn của phe Hamas vào miền Nam Israel. Nguồn tin an ninh của Hamas cho hay, thủ lãnh chính trị của họ là ông Nizar Rayyan, với nhiền ngưòi trong gia đình ông ta đã bị tử thương. Ông này là người thường lên tiếng cổ võ cho các cuộc đánh bom tự sát. Nhà cầm quyến Israel cho biết họ không còn cách nào khác là tấn công Hamas, sau khi các cuộc thương thảo để gia hạn 6 tháng hưu chiến bất thành. Ngày 02/01/09, ngoại trưởng Israel, bà Tzipi Livni tuyên bố: “Chúng tôi muốn làm suy yếu phe Hamas ỏ dải Gaza. Thật ra, Hamas không phải chỉ là một vấn đề của Israel mà cho toàn thế nhân dân Palestine. Hamas là một vấn đề đối với những ai hiểu rõ bản chất của nhóm này. Hamas là vấn đề đối với tất cả những quốc gia Ảrập nào hiểu rằng, ngay trong nước họ cũng có những thành phần quá khích, kể cả những tổ chức của nhóm Huynh Đệ Hồi Giáo ở nhiều nơi khác nhau”. Bộ trưởng Quốc Phòng Israel, Ehud Barak trong bài diễn văn truyền hình hôm thứ bảy, 03/01/09 nói rằng:
“Chiến dịch này sẽ không ngắn hạn và cũng không dễ dàng”.
Ông tuyên bố:
“Chiến dịch này sẽ tiếp diễn cho tới khi cộng đồng dân chúng tại miền Nam Israel không còn bị các cuộc tấn công bằng rocket của tổ chức Hamas”.
“Ý đồ của Israel không phải là chiếm đóng dải Gaza, hay tiêu diệt Hamas, mà là tiêu diệt khủng bố”.
Tổng thống Israel, Shimon Peres cho biết cuộc tấn công sẽ tiếp tục. Ông nói:
Hiện nay cuộc tấn công Hải, Lục, Không quân của Israel đang cắt dải Gaza ra làm 2 mảnh để truy diệt nhóm dân quân Hamas.
Thủ lãnh Hamas tại Gaza, Mahmoud Zahar, cùng ngày 05/01//09, cũng đưa ra lời kêu gọi những người theo ông,
“hãy nghiền nát quân đội và các mục tiêu thường dân của Israel”.
Người lãnh đạo lưu vong của tổ chức Hamas, ông Khaled Meshaal, ngày 03/01/09, trên truyền hình al-Jazeera từ Damascus của Syria, trong một diễn văn hướng tới không riêng Israel, mà cả người Palestine và các cộng đồng Hồi Giáo khác rằng:
“Israel sẽ vấp phải sai lầm ngớ ngẩn nếu điều xe tăng tới Gaza,… nước này sẽ phải đối mặt với số phận đen tối”. “Chúng tôi sẽ không khuất phục, sẽ không đầu hàng, hoặc chấp nhận các điều kiện cưỡng chế”.
Thủ lãnh Hezbollah đặt căn cứ tại Libăng, nằm sát biên giới phía Bắc Irael, ông Hassan Nasrallah, trước đó đã nói, các lực lượng dưới quyền của ông đang trong tình trạng báo động trước nguy cơ xẩy ra các cuộc tấn công của Israel. Được biết, nhóm võ trang quá khích Hezbollah này là hậu thuẫn chính cho phe Hamas và là bàn tay nối dài của Iran và Syria.

Trong khi đó thì Hội Đồng Bảo An LHQ không thể thông qua Nghị Quyết về cuộc chiến tại Gaza vì Mỹ phủ quyết. Tổng Thống Pháp, Nicolas Sarkozy là nhân vật năng nổ nhất trong công cuộc vận động chấm dứt cuộc chiến này. Tuy đã chuyển giao chức vụ chủ tịch Liên Âu cho Cộng Hòa Czech, ông Sarkozy dường như vẫn muốn tiếp tục giữ vai trò nổi bật trong việc giải quyết những vấn đề quốc tế. Ông thực hiện chuyến công du Trung Đông với chặng dừng chân tại Israel, vùng Tây Ngạn, Aicập, Jordan, Syrie và Libăng. Gặp tổng thống Palestine, Mahmouhd Abbas tại thành phố Ramallah thuộc bờ Tây sông Jordan, tổng thống Pháp Sarkozy nhắc lại lời kêu gọi ngừng chiến của ông:
“Thông điệp của TT Pháp gửi cho Israel là cuộc bạo động phải chấm dứt. Đồng thời cũng lên án Hamas về những cuộc pháo kích bằng hỏa tiễn và súng cối vào Israel”.
Thảo luận với TT Abbas, đặc sứ quốc tế về Trung Đông, cựu thủ tướng Anh, Tony Blair nói: “Chúng ta muốn có một cuộc ngưng bắn ngay lập tức được cả hai bên hoàn toàn tôn trọng”. Nữ ngoại trưởng Israel, Tzipi Livni lên tiếng:
“Tôi thông hiểu ước vọng của cộng đồng quốc tế là muốn thấy khu vực này được yên ổn. Đó cũng chính là ước mơ của chúng tôi. Đó chính là điều chúng tôi đang đi tìm. Thật không may là có nhiều người không chấp nhận ý tưởng cùng chung sống hòa bình trong khu vực này”.
Tại Hoa Thịnh Đốn, tổng thống Mỹ, George W. Bush cũng lên án Hamas là gây ra cuộc khủng hoảng hiện thời và “Israel chỉ muốn tự bảo vệ”.

Nhưng điều đáng ghi nhận ở đây là phó tổng thống Mỹ, Dick Cheney nói rằng:
“Israel không thông qua các kế hoạch tấn công với Tòa Bạch Ốc. Họ không mưu tìm sự biểu đồng tình hay chấp thuận của chúng tôi, đó là điều chắc chắn”.
Ông nói với chương trình Face the Nation của đài truyền hình CBS rằng, các nhà lãnh đạo Israel đã cảnh báo, họ sẽ không ngồi yên trong khi phe Hamas phóng rocket vào Israel từ dải Gaza:
“Họ đã nói với tôi từ vài tháng nay, họ nói với tôi trong chuyến công du đến đó rằng, họ không muốn phải có hành động có liên quan đến Gaza. Họ đã rời bỏ vùng ấy 3 năm rồi. Nhưng nếu việc phóng rocket không chấm dứt thì họ cảm thấy rằng họ không còn lựa chọn nào khác là phải hành động”.
Có thể hiểu được điều đó, vì vào đầu nhiệm kỳ 2 của TT Bush. Ông Bush đã đề ra chủ trương 2 nước Israel và Palestine cùng tồn tại độc lập bên nhau. Chính quyền Cộng Hòa Hoa Kỳ lúc đó có thực lực, và nội lực đủ mạnh để vượt khỏi thế lực tài chánh khổng lồ của nhóm quyền lực Do Thái tại Mỹ, nên đã buộc được Israel phải “Đổi Đất lấy Hoà Bình”. Israel phải chấp nhận chính quyền Palestine của TT Abbas ở vùng Tây ngạn và tháng 04 năm 2004 bắt đầu kế hoạch rút khỏi Gaza. Nhưng 18 tháng trước đây, phe quá khích Hamas đã cướp quyền tại Gaza và thường xuyên pháo kích vào Israel.

Mặc dầu vậy, Chính quyền Bush đã cố gắng hết mình để được ghi vào lịch sử nhân loại là, mình đã giải quyết xong một vấn đề gai góc khó nuốt nhất, trong lịch sử thế giới là Hòa Bình giữa 2 Dân Tộc Israel và Palestine. Xung đột không lối thoát giữa Israel và Palestine là nguyên nhân tạo ra các cuộc chiến Trung Đông. Tạo ra phong trào Khủng Bố Hồi Giáo với phuơng pháp tàn độc “Ôm Bom Tự Sát”. Một trong những nguyên cớ biến Mỹ thành kẻ thù của nhiều nước trên thế giới, chỉ vì phải bảo trợ cho sự tồn tại của Dân Tộc Do Thái giữa lòng Thế giới Ảrập, mà Mỹ phải sử dụng đến quyền phủ quyết tại Hội Đồng Bảo An LHQ nhiều lần. TT Bush muốn 2 nước Israel và Palestine được hòa bình độc lập trước khi ông rời chức Tổng Thống Hoakỳ. Nên Nữ Ngoại Trưởng Condoleezza Rice mấy năm nay đã bỏ hết công sức và thì giờ vào đó. Nhưng kết quả thì như đã thấy. Đã thấy ngay khi thế lực Truyền Thông và Tài Chánh Mỹ tích cực vận động cho một Nghị Sĩ thanh niên da đen, thân cô, thế cô, thắng các ứng viên đảng Dân Chủ để tranh chức Tổng Thống, với ứng viên của Cộng Hoà, vì đảng này đã giữ ghế Tổng Thống Mỹ 2 nhiệm kỳ, giữa lúc các ngân hàng tự hủy uy tín, thi nhau phá sản, khiến cho người dân mất tin tưởng vào thị trường, kinh tế Mỹ và cả thế giới lao đầu xuống dốc. “Trăm dâu đổ đầu tằm”, chính quyền Cộng Hoà Bush lãnh đủ. Tổng Thống tân cử Mỹ, Barack Obama Dân Chủ sắp nhậm chức “giữ im lặng chiến lược” về Gaza. Nhưng dải Gaza sẽ là bãi mìn chính trị cho ông Obama, và “của nợ” kinh tế tài chánh đen tối khiếp đảm cũng đang chờ ông. Đâu là Hoà Bình?! Đâu là Thay Đổi?! Chiến tranh và khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang chờ chính quyền Obama và đang chờ chúng ta!

# Little Sàigon 06-01-2009.

Lý Đại Nguyên

Trong khi nhóm Man Cộng Hànội, ngày càng đẩy Việtnam lún sâu vào vòng tay khống chế của bọn Bành Trướng Bắc Kinh, chúng coi thường dư luận quốc tế, thẳng tay xiết chặt báo giới, đàn áp những người chống tham nhũng, khủng bố những người đòi Dân Chủ và Tự Do Tôn Giáo, Công Bằng Xã Hội, thì ngày 15-11-2008 Hội Đồng Lưỡng Viện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, dưới sự chủ tọa của Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo kiêm Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống, gồm đông đủ các thành viên Hội Đồng Lưỡng Viện và một số thành viên Ban Đại Diện Tỉnh Giáo Hội. Sau 8 giờ thảo luận đã thông qua Bản Nghị Quyết 9 điểm, ngoài việc khẳng định:
“1- Quyết tâm nối tiếp sự nghiệp phụng sự chánh pháp và dân tộc, mà Đức cố Đệ Tứ Tăng Thống GHPGVNTN đã vạch ra, cho dù còn rất nhiều khó khăn phía trước đang chờ đón, vẫn không nao núng chùn bước”.
Giáo Hội đã nhất tâm tuyên hứa:
“2- Nguyện cùng toàn dân trong ngoài nước cương quyết bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ, yêu cầu nhà cầm quyền Hànội phải có trách nhiệm bào vệ tổ quốc, mà trước mắt là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhất là các Hiệp Ước về biên giới trên bộ, vùng đánh cá chung…đã ký kết với Trung Cộng như thế nào? Nhượng, bán cho Trung Cộng bao nhiêu đất đai, lãnh hải? Số ngư dân vùng đánh cá chung, đã bị Trung Cộng bắn giết trong trường hợp nào? Bao nhiêu người? và giải quyết ra sao? Hãy can đảm công bố minh bạch cho quốc dân trong ngoài nước và thế giới cùng biết. Tránh những dư luận bức xúc, bàn tán xôn xao, trong nhân dân ngày càng gia tăng.”

Lời yêu cầu này được nêu lên với nhà cầm quyền Hàinội, giữa lúc toàn dân trong ngoài nước và thế giới đang chứng kiến chiến hạm Trịnh Hòa của Trungcộng, ngày 18-11-08 cập bến Đànẵng, tiếng là chuyến thăm hữu nghị. Nhưng thực tế là Trungcộng đưa con tầu mang tên Trịnh Hòa vào Việtnam là cố tình xác nhận với Việtnam và Thế Giới rằng: 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và toàn cõi Biển Đông là của chúng. Vì Trungcộng từng lên tiếng cho là, chính viên thái giám Trịnh Hòa, dưới thời Nhà Minh Trunghoa này, năm 1405 được phong làm Thủy Sư Đô Đốc, điều khiển một đoàn chiến thuyền vượt đại dương tìm xứ lạ, là người đầu tiên đã khám phá ra 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và toàn vùng biển ở đây. Xem vậy, vì tâm từ bi và tình yêu nước, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã vượt lên trên mọi đối kháng đời thường, mà chính mình đang là nạn nhân bị ngược đãi, để làm một sự gợi ý cho nhà cầm quyền Hànội, nếu còn có lương tri và chút ít tự ái dân tộc thì cần lên tiếng bạch hóa mọi vấn đề khúc mắc giữa quan hệ 2 nước Việt Hoa. Đừng để cho Trungcộng coi thường dân tộc Việtnam, mà tổ tiên người Hoa trước kia, tuy từng nhiều phen bị bại trước Việtnam, nhưng vẫn tự coi là Thiên Triều và khinh miệt gọi nước ta là Nam Man.

Giáo Hội cũng:
“3- Kêu gọi nhà cầm quyền Hànội hãy nhanh chóng phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của GHPGVNTN theo lập trường 4 điểm mà Viện Hóa Đạo đã đề xuất (trước đây). Trong đó có việc: “Đưa Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, mà đảng Cộngsản và nhà nước CHXHCNVN đã thiết lập năm 1981, ra khỏi Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, một cơ quan ngoại vi của đảng Cộngsản”.
Việc này đồng nghĩa với việc tất cả các giáo hội của mọi tôn giáo đang sinh hoạt công khai hợp pháp tại Việtnam, phải được ra khỏi quy chế “xin cho” của Pháp Lệnh Tín Ngưỡng Tôn Giáo, hiện buộc các giáo hội đó phải nằm trong và do Mặt Trận Tổ Quốc trực tiếp điều khiển. Đây là thực trạng của các tôn giáo tại Việtnam đang bị nhà cầm quyền Việtcộng dùng luật lệ phi pháp và tổ chức ngoại vi của đảng Cộngsản để trói buộc các giáo hội vào một cơ chế độc tài toàn trị, chứ không phải là việc công nhận quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng như ở các chế độ dân chủ pháp trị. Nên GHPGVNTN:
“4- Tiếp tục vận động dân chủ nhân quyền và tự do tôn giáo thực sự tại Việtnam cho đến khi đạt mục đích” .
Năm điều còn lại thuộc về vấn đề nội bộ của Giáo Hội như:
“5- Kiện toàn nhân sự HĐLV, củng cố và tiếp tục thành lập Ban Đai Diện GHPGVNTN các Miền, các tỉnh thành, và đặc biệt là kiện toàn đoàn thể Gia Đình Phật Tử Việt Nam. 6- Tùy hoàn cảnh địa phương, tổ chức các khoá tu học, các khóa hội thảo Phật Pháp, Tu Bát Quan Trai, hành thiền…tạo điều kiện cho Phật Tử tại gia học Phật. 7- Hơn bao giờ hết, hàng xuất gia cũng như tại gia nỗ lực hành trì Giới-Định-Tuệ để tích tập phước đức tự thân trang nghiêm Giáo Hội, nêu cao đời sống phạm hạnh. thiểu dục, tri túc và thận ngôn…nhằm ngự chế tình trạng suy thoái như hiện nay trong đời sống xã hội. 8- Đề cao cảnh giác trước mưu toan xảo trá, luận điệu xuyên tạc, vu khống, lường gạt của các thế lực vô minh, của nội ma ngoại chướng đang nỗ lực đánh phá GHPGVNTN. 9- Sau hết đối với chư tôn đức và số đoàn viên Gia Đình Phật Tử, đã từ bỏ GHPGVNTN, nếu thấy cần thành lập một tổ chức Phật Giáo khác, điều đó không ai cấm cản. Nhưng chúng tôi phản đối việc sử dụng danh xưng GHPGVNTN khi không tuân thủ nội dung Hiến Chương GHPGVNTN”.
Nghị quyết 9 điểm của Hội Đồng Lưỡng Viện GHPGVNTN xuất hiện đúng lúc, đúng thời, đúng thế của hoàn cảnh Việtnam. Trong khi thế giới đang rối mù vì cuộc khủng hoảng tài chánh quốc tế. Hoakỳ là siêu cường duy nhất làm cho bọn Bành Trướng Bắc Kinh phải kiêng nể, đang trong thời kỳ chuyễn đổi chính quyền.. Nên chính sách “Nhập Nội Việt Nam” tuy nhất quán, nhưng không phải là không có kẽ hở. Nương vào đó, bọn Bành Trướng Bắc Kinh đã hà hơi tiếp sức cho nhóm Man Cộng Hànội, vùng lên chống phá quyết liệt chủ trương “Nhập Nội Việt Nam ” của Hoakỳ, qua việc Tư Doanh Hóa Kinh Tế, Tự Do Hóa Xã Hội, Dân Chủ Hóa Chế Độ. Cũng như Trungcộng, nhóm Mancộng tại Việtnam cũng chỉ chấp nhận để cho đảng viên làm kinh tế tư doanh, còn tìm mọi cách để giới hạn công cuộc tư doanh của tư nhân. Riêng về Tự Do Hóa Xã Hội, thì chúng để cho dân chúng tự do trong thế hổ lốn, sống chết mặc bay. Không cho thành lập các tổ chức Xã Hội Dân Sự, nhất là lãnh vực Tự Do Ngôn Luận, để bảo vệ và tranh đấu cho quyền lợi chính đáng của các công dân và các tập thể xã hội. Còn việc Dân Chủ Hóa Chế Độ, như sửa Hiến Pháp, cho Bầu Cử Trực Tiếp và sinh hoạt Chính Trị Đa Đảng thì bị cấm tiệt. Chính việc Việtnam không có Tự Do Dân Chủ Thực Sự, nên bọn Bành Trướng Bắc Kinh chỉ cần nắm được đảng và chính phủ tại Hànội là Việtnam trở thành thuộc quốc của chúng. Cho dù nhóm Man Cộng Hànội có thiết lập mối tương quan quân bình giữa Hoa, Mỹ và thế giới như chúng trông đợi, mà Việtnam chưa có Tự Do Dân Chủ Nhân Quyền Thực Sự, thì vẫn chỉ là một nước làm tôi mọi cho các nước lớn mà thôi. Vậy việc GHPGVNTN tiếp tục vận động dân chủ nhân quyền và tự do tôn giáo thực sự tại Việtnam là nhu cầu của Dân Tộc và của mỗi chúng ta.

Little Saigon ngày 18-11-2008.

Lý Đại Nguyên

Chỉ còn mấy ngày phù du là tới lúc cử tri Hoakỳ đến phòng phiếu để chọn 1 trong 2 liên danh Cộng Hòa McCain-Palin hoặc Dân Chủ Obama-Biden vào vị trí lãnh đạo quốc gia mình. Cuộc bầu cử diễn ra giữa thời điểm nước Mỹ và toàn thế giới rơi vào cảnh khủng hoảng tài chánh. Nên những vấn đề như bình ổn Iraq, giá dầu xuống thấp, đáng lẽ là lợi thế của đảng Cộng Hòa đương quyền. Nhưng liên danh Cộng Hòa McCain-Palin không thể lấy đó làm thành tích tranh cử, mà cứ phải cố chứng tỏ mình không là sự tiếp nối với chính sách của tổng thống Cộng Hòa Bush. Bởi thế liên danh Cộng Hòa bỗng trở thành “con vịt què" lẹt đẹt đuổi theo “con ô truy” Dân Chủ. Có lẽ, đảng Cộng Hòa đã giữ ghế Tổng Thống 2 nhiệm kỳ, người dân Mỹ muốn có một không khí mới mẻ hơn. Vì tất cả đều hiểu, dù ông thổng thống của đảng nào lên cầm quyền nước Mỹ, thì những vấn đề trọng đại đều do chính sách lưỡng đảng quyết định. Bởi thế, theo quán tính bầu cử, nếu cử tri chọn vị Tổng Thống của đảng này, thì bỏ phiếu cho Dân Biểu, Nghị Sĩ ở đảng kia, để lưỡng đảng kiểm soát lẫn nhau. Chính vì vậy, mà cử tri Mỹ rất yên tâm lựa chọn, lỡ mà chọn lầm thì đất nước cũng không vì thế mà lâm nguy. 4 năm sau bầu lại, hay 2 năm tới có thể trừng phạt một đảng nào đó ở cuộc bầu cử Quốc Hội giữa nhiệm kỳ. Và cũng vì vậy mà các ứng cử viên tha hồ cao giọng, hứa đủ thứ, đến khi ngồi vào vị trí rồi, cũng đành bó tay, nếu đó không hợp với chính sách lưỡng đảng.

Cái đúng của chính quyền Cộng Hòa Bush có thể lịch sử sẽ hậu xét, nhưng cái sai của chính quyền Cộng Hoà thì phe Dân Chủ nhất định phải tận lực khai thác ngay bây giờ. Điều đáng nói là đảng Dân Chủ đã chọn một nhân vật trẻ tuổi da đen có học, đại diện cho mình ra tranh ghế tổng thống. Việc đề cử này được cả thế giới hoan hô. Nó chứng tỏ, nước Mỹ không còn nạn kỳ thị chủng tộc, đã sẵn sàng chấp nhận một tổng thống da mầu. Lại cũng không phân biệt tôn giáo, khi TNS Obama chọn TNS Biden thuộc Kitô Giáo đứng phó. Vì từ xưa tới nay tổng thống, phó tổng thống Mỹ đều là đàn ông, da trắng, theo đạo Tin Lành, trừ có TT Kennedy theo Kitô Giáo, rồi bị ám sát. Phải nhận rằng nếu cử tri Âu Châu, Á Châu, Phi Châu được bỏ phiếu tồng thống Mỹ vào ngày 04-11 này thì họ nhất định sẽ bầu cho ông Barack Hussein Obama, vì họ có mất gì đâu, nếu có bị mất đó là nước Mỹ tự đánh mất vị thế Siêu Cường Vô Địch, khi mà cử tri Mỹ bầu nên một vị Tổng Thống không còn giữ truyền thống Tự Do Dân Chủ của cha ông mình. Mà bầu cho một ứng viên như Obama có cha là người Kenya, mẹ Mỹ, tuổi thơ ấu sống ở xứ Hồi Giáo Indonesia. Trong cuốn sách Dreams From My Father - Giấc Mơ Từ Cha Tôi của Barack Hussein Obama, ông đưa ra chủ điểm: “Bảo vệ và đưa lại quyền lực cho giới công nhân Hoakỳ… Phân phối lợi tức cho toàn xã hội” . Trong cuộc vận động tranh cử ông thường xuyên nhắc 2 chữ “wealth spreading - san bằng tài sản”. Đúng là ngôn ngữ mỵ dân của thứ Xã Hội Chủ Nghiã chết tiệt, mà bọn Mancộng Hànội vẫn còn quen dùng.

Trong một ngày đã có 610 Email gởi tới phản đối chủ trương nguy hiểm của Obama, rằng: “Anh không thể nào giúp người nghèo bằng cách tiêu diệt người giầu… Anh cũng không thể làm cho kẻ yếu được mạnh bằng cách tiêu diệt kẻ mạnh đi”. Rõ ràng, đây là một giấc mơ hoang tưởng của Obama. Nó còn hoang tưởng hơn cả các ông tổ cộng sản mơ về một Thế Giới Đại Đồng không giai cấp, rồi tự mâu thuẫn với lý tưởng của chính mình vừa tuyên xưng, là dùng Giai Câp Đấu Tranh để diệt Tư Bản, xây dựng chính quyền của Giai Cấp Vô Sản độc đảng, độc tài, toàn trị xã hội. Vì hoang tưởng và mâu thuẫn giữa lý tưởng và hành động, nên Thế Giới Cộng Sản đã bị xụp đổ trước sức phát triển của Thế Giới Tư Bản thực tế, thực dụng. Chính hệ thống Văn Hóa, Xã Hội, Chính Trị, Kinh Tế, Quân Lực hùng mạnh của nước Tư Bản Dân Chủ Hoa Kỳ đã lãnh đạo Thế Giới Tự Do đánh tan Thế Giới Hoang Tưởng Cộng Sản. Thế mà nay, đảng Dân Chủ, nhiều người có học và truyền thống Mỹ lại nhắm mắt ủng hộ cho Barack Hussein Obama thực hiện chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa hoang tưởng đó ngay tại Hoa Kỳ này mới lạ.

Nếu cứ tin vào những cuộc thăm dò và bình luận của các cơ quan truyền thông Mỹ hiện nay, thì chức Tổng Thống Mỹ hầu như sắp lọt vào tay TNS Obama. Như vậy với chức năng tổng thống liệu Obama có thực hiện nổi giấc mơ xã hội chủ nghĩa hoang tưởng để phá vỡ hệ thống Chính Trị Dân Chủ, Xã Hội Tự Do, Kinh Tế Thị Trường Tư Bản Năng Động Mở Rộng của Mỹ được không? Chắc là không. Nhưng nó vẫn có khả năng gây ra sự rối loạn nhất định trong niềm tin và sinh hoạt khắp mặt, góp với cuộc khủng hoảng tài chánh của Mỹ và toàn cầu, làm cho Mỹ mất dần tư thế lãnh đạo thế giới. Đây chính là mối lo của những người hiểu biết trong đại khối dân tộc Mỹ. Ứng viên Cộng Hoà John McCain qua kinh nghiệm của tù binh trong cuộc chiến Việtnam, ông nói:
“Tôi thấu hiểu cái cảm giác sợ hãi. Nó chính là kẻ trộm trong bóng tối rình lấy đi sức mạnh của chúng ta. Tôi thấu hiểu tâm trạng của nỗi tuyệt vọng. Nó chính là kẻ thù phá huỷ ý chí của chúng ta. Tôi từng trải qua những kinh nghiệm đó trước đây. Tôi sẽ không bao giờ để cho chúng có cơ hội xuất hiện trở lại. Tôi là người Mỹ và tôi chọn con đường kiên quyết đấu tranh”
. Đây dù là kinh nghiệm bản thân của ông McCain trong khi bị tù, nhưng nếu nước Mỹ mà bị rơi vào cảnh tan nát thì cảm giác sợ hãi nơi mọi người biết sao mà kể.

Trong khi đó đại tướng Colin Powell, cựu Ngoại Trưởng nhiệm kỳ đầu của Tổng Thống George W. Bush, đàng viên cỡ lớn của đảng Cộng Hòa, bạn thân với TNS John McCain. Phát biểu trong một cuộc phỏng vấn được truyền hình khắp nước, đã tuyên bố ủng hộ ứng viên tổng thống của đảng Dân Chủ Barack Obama. Ông nói: “Ông Obama đạt tiêu chuẩn để trở thành một Tổng Thống thành công”. Và “…lấy làm thất vọng về chiều hướng không tích cực của chiến dịch vận động của ông McCain, và về quyết định của ông McCain chọn bà Sarah Palin ra đứng chung liên danh với ông”. Luật pháp Mỹ cấm kỳ thị chủng tộc, nên người tự trọng và tôn trọng luật pháp hết sức tránh động tới vùng nhậy cảm này. Nhưng với một người từng được đảng Cộng Hòa coi trọng, nắm vững đường lối chính sách Lưỡng Đảng của nước Mỹ như tướng Powell, chỉ vì vấn đề nhỏ nhặt, không ủng hộ cho gà nhà, mà lại chọn người cùng màu da để ủng hộ, thì trách làm sao tuyệt đại cử tri da trắng của cả Cộng Hòa lẫn Dân Chủ không bầu cho liên danh cùng mầu da với mình. Ông Obama được cử tri nhiều nước Âu, Á, Phi, vì cảm tình, vì quyền lợi hết mình muốn bầu cho ông. Không lẽ cử tri Mỹ lại không vì tình cảm, quyền lợi của nước mình để bầu cho ông McCain hay sao? Ông McCain cho đến phút chót vẫn tin là mình sẽ thắng. Nếu cuộc bầu cử ngày 04-11-2008 này ông John McCain thắng, tức là ngựa về ngược. Âu đó cũng do Tinh Thần Ái Quốc Truyền Thống của người Hoakỳ chiến thắng đấy mà thôi!

Little Saigon ngày 28-10-2008.

Lý Đại Nguyên

Sau hành vi Công An của chế độ Việtcộng canh gác cho bọn lưu manh côn đồ hành hung các tu sĩ và giáo dân ôn hòa cầu nguyện đòi công lý và sự thật trong vụ tranh chấp đất đai giữa giáo xứ Thái Hà và Nhà Chung với giới đương quyền TP Hànội. Sau khi nắm được lời tuyên bố của TGM Ngô Quang Kiệt trong cuộc họp với Hội Đồng Thành Phố, đại ý rằng: Không đòi lại đất đai và nhiều cơ sở của giáo hội, bị tịch thu, đã đang được dùng vào các việc công ích. Thế là bọn Việtcộng lập tức hô biến các khu đất đang tranh chấp, vốn là nơi du hý và chia chác cho nhau đó, thành 2 công viên của thành phố. Đây rõ ràng là hành động lưu manh “không ăn, đạp đổ” của bọn hạ cấp, chứ đâu phải là việc làm quang minh chính đại của một chính quyền. Điều hèn nữa là chủ trương của TGM Kiệt cũng như Hội Đồng Giám Mục Việt Nam là đối thoại thẳng thắn với chính quyền, thì nhà cầm quyền Hànội không dám, mà lại cho truyền thông công cụ của đảng công kích thậm tệ TGM Kiệt. Rồi ngày 15-10-08, phó chủ tịch UBND TP Hànội, Nguyễn Thế Thảo, trong cuộc họp với 30 đại diện ngoại giao đã đe dọa:
“sẽ đề nghị thuyên chuyển ông Ngô Quang Kiệt ra khỏi giáo phận Hànội”… “vì ông Ngô Quang Kiệt đã không còn đủ uy tín và tư cách để thực hiện chức trách như trước đây”.
Nói về uy tín và tư cách thì trong hàng ngũ Giám Mục Việt Nam, TGM Ngô Quang Kiệt là nhân vật hiện nay là ngôi sao sáng, không riêng gì trong việc lãnh đạo giáo dân của Tổng Giáo Phận Hànội, mà còn là lực cuốn hút đối với toàn thể giáo dân Việtnam trong và ngoài nước, được dư luận toàn dân và toàn thế giới coi trọng. Vì chính Ngài đã làm rạng danh Giáo Hội Công Giáo Việt Nam khi khẳng định: “Tự Do Tôn Giáo là Quyền, chứ không phải là cái ân huệ xin cho”. Tức là chính thức tỏ thái độ không nhìn nhận thứ Pháp Lệnh Tín Ngưỡng Tôn Giáo “xin cho” của nhà nước Việtcộng. Như vậy uy tín và tư cách của TGM Ngô Quang Kiệt đối với quốc dân và quốc tế đang lên cao. Nhưng đối với nhà nước Việtcông thì chẳng ưa chút nào, nên đang tìm mọi cách để đẩy Ngài ra khỏi thủ đô. Việc TGM Kiệt có bị chính thức đẩy khỏi Hànội hay không? Trách nhiệm đó thuộc về Tòa Thánh Vatican. Vì nếu đơn phương Việtcộng dùng sức mạnh đuổi Ngài Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hànội, mà không được sự chấp thuận của Giáo Hoàng thì về chức năng Hội Thánh, dù ở đâu, hoặc ở trong tù thì Ngài Ngô Quang Kiệt vẫn đương nhiên là Tổng Giám Mục thành Hànội.

Khi dư luận quốc tế lên tiếng về việc nhà nước Việtcộng bách hại Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và các giáo hội dân lập, thì họ tìm mọi cách chối quanh, rằng ở Việtnam không có bách hại tôn giáo. Ở Việtnam các giáo hội đều được tự do. Nay đối với Công Giáo là một giáo hội đang được nhà nước Việtcộng công nhận, mà họ cũng có những hành động vi phạm trắng trợn, và lẩn tránh đối thoại như vậy, thì trước dư luận quốc tế, nhà nước Việtcộng đương nhiên tự thú nhận họ đã đàn áp, ngược đãi tôn giáo thật. Ngoài vấn đề Tự Do Tôn Giáo, vấn đề Tự Do Ngôn Luận hiện nay đang được dư luận quốc tế đặc biệt quan tâm. Với vụ án tham nhũng PMU18 có tầm mức quốc tế. Liên hệ đến Bộ Giao Thông Vận Tải, khiến một bộ trưởng phải mất chức, thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến, tay chân của TBT Nông Đức Mạnh bị bắt từ tháng 04/06 đến ngày 25-03-2008, được nhìn nhận là vô tội và ra khỏi tù. Lập tức những người có công phanh phui vụ tham nhũng lớn này bị trả thù. Ngày 12-05-2008, Nhà báo Nguyễn Việt Chiến của tờ Thanh Niên và nhà báo Nguyễn Văn Hải của tờ Tuổi Trẻ bị bắt giam. Cựu thiếu tướng Phạm Xuân Quắc và thượng tá Đinh Văn Huynh cầm đầu điều tra vụ PMU 18 bị cơ quan an ninh bộ công an khởi tố về tội lợi dụng chức quyền trong khi thi hành công vụ.

Sáng 15-10-2008, tòa án Nhân Dân thành phố Hànội phán quyết, NB Nguyễn Việt Chiến, không nhận tội, bị án 2 năm tù giam. NB Nguyễn Văn Hải nhận tội, bị án 2 năm cải tạo không giam giữ. Thiếu tướng Phạm Xuân Quắc bị cảnh cáo. Thượng tá Đinh Văn Huynh bị án 1 năm tù giam về tội làm lộ công tác. Trước đó Ban Tuyên Giáo Trung Ương cộng đảng với sự có mặt của trưởng ban Tô Huy Rứa đã họp với nhiều tờ báo để đề ra định hướng tường thuật vụ xử án. Trung tướng Việtcộng, Vũ Hải Triều phó tổng cục trưởng Tổng Cục An Ninh nói:
“Lãnh đạo đảng Cộng Sản đã kết luận vụ án PMU18 chỉ là vụ án đánh bạc, cá độ bóng đá, nhưng đã bị đẩy lên thành vụ tham nhũng, gây ra dư luận rất xấu”
Tóm lại là Bộ Chính Trị và Ban Bí Thư Trung Ương Đảng, cầm đầu bởi Nông Đức Mạnh đã trực tiếp can thiệp vào vụ bao che cho tham nhũng PMU18 này. Đài truyền hình Mỹ CNN nói:
“Các cơ quan truyền thông đã từng kêu gọi thả hai nhà báo, và cho rằng, việc bắt họ sẽ chỉ làm nản chí việc đưa tin chống tham nhũng”
Báo The Guardian của Anh nhắc đến chi tiết các tờ báo ở Việtnam đã từng đồng loạt lên án việc bắt giữ 2 phóng viên, nhưng
“chính quyền nhanh chóng bóp chẹt truyền thông do nhà nước kiểm soát và từ đó rất ít thông tin về họ được công bố”
Đến đây thấy rõ được rằng: Cộng Đảng dưới quyền lãnh đạo của Nông Đức Mạnh đã đẩy chế độ Việtcộng xuống tới mức “Man Rợ” trước mặt Thế Giới Thời Đại Toàn Cầu Hóa, để tự nhận lấy cái tên “Man Cộng” cho đúng nghĩa, đúng bản chất của con người và chế độ tồi bại đó.

Nếu còn dùng chữ “Việt” thì chỉ xấu hổ thêm cho Việtnam mà thôi. Vì cho dù đó là nhà cầm quyền Việtcộng chuyên môn dối trá và khủng bố, cũng không đến nỗi đốn mạt phải dùng tới bọn côn đồ lưu manh, hoặc bọn Công An của nhà nước đội lốt lưu manh côn đồ để thường xuyên hành hung những người dân oan trước nay, và đánh đập những giáo dân, tu sĩ chỉ hiền lành cầu nguyện như vậy. Cũng không công khai trắng trợn tùy tiện trước dư luận quốc tế bẻ quẹo luật pháp, biến kẻ có tội thành vô tội, kẻ vô tội thành có tội, nhằm bao che cho bọn tham nhũng, mà không một nghị quyết nào của cộng đảng không đặt việc chống tham nhũng lên hàng đầu. Bọn Cộng không xứng đáng dùng tên Việt đứng trước, vì chúng không còn là người Việtnam. Chúng đang theo lệnh quan thầy Tầucộng, để nhân Thị Trường Tài Chánh Thế Giới rối loạn, nước Mỹ đến gần ngày bầu cử Tổng Thống, hết gọi Nông Đức Mạnh, đến Nguyễn Phú Trọng sang Bắc Kinh để ra lệnh. Nay buộc Nguyễn Tấn Dũng sang Tầu để ký vào những văn bản dâng đất, hiến biển, nhường đảo Hoàng Sa, Trường Sa và những quyền lợi kinh tế trọng yếu của Việtnam cho chúng. Thử hỏi bọn cộng sản Nông Đức Mạnh còn có thề gọi là Việtcộng được nữa hay không? Đề nghị nên gọi bọn họ là Mancộng tay sai Tầucộng, thay cho Việtcộng.

Little Saigon ngày 21-10-2008.

-Lý Đại Nguyên-

Cuộc đấu tranh tự do dân chủ nhân quyền cho Việtnam là một cuộc đấu tranh cam go, hung hiểm với một tập đoàn gian trá, lỳ lợm, không từ bỏ bất cứ thủ đoạn thâm độc, tàn ác, ngụy tạo, bất nhân, bất nhẫn, bất cần liêm sỉ nào, mà không đem ra sử dụng, và trong tay chúng đang điều khiển một guồng máy chính quyền khủng bố khổng lồ . Cuộc đấu tranh này đòi hỏi sức mạnh toàn tâm, toàn ý, toàn lực của toàn dân, toàn thế giới và toàn diện tương tác mới mong có kết qủa mau chóng. Tiếc rằng, về phía chúng ta vẫn còn là “nắm cát rời”. Tuy ước nguyện Tự Do Dân Chủ Nhân Quyền chỉ là một, nhưng quyền lợi của các cá nhân, tập thể, và các thế lực quốc dân trong, ngoài nước và quốc tế lại khác nhau. Nên không tìm được “thế hợp đồng tác chiến” tốc chiến, tốc thắng. Nhất là kẻ địch biết cách khai thác những mâu thuẫn về nhận thức, thành kiến và sự nghi kị giữa các tôn giáo, đảng phái, giữa những “người phản tỉnh” và người chống cộng.

Còn chúng ta, nhất là ở hải ngoại này vốn là thế lực hậu thuẫn chính cho cuộc đấu tranh Tự Do Dân Chủ trong nước, thì vẫn mơ mơ, hồ hồ, cứ thản nhiên rơi vào bẫy của kè địch để chống phá nhau, lên án nhau, oán trách nhau một cách hăng say không thương tiếc. Chính vì vậy, mà cộng sản đã thành công trong kế sách dùng tôn giáo chống tôn giáo. Khi hết tác dụng thì chúng lại dùng ngay chính những cánh phản đồ của các tôn giáo đang bị bách hại trong nước, cũng nhân danh tôn giáo đó, cũng nhân danh chống cộng, để chống lại với Lãnh Đạo của tôn giáo mình đang trực diện đấu tranh gian khó với cộng sản ngay trên quê hương. Những vị lãnh đạo đó vốn là mối nguy cho chế độ cộng sản, mà họ càng đánh phá, càng đàn áp, thì uy thế của các vị này trong quốc dân và trên quốc tế càng lên cao. Nay, cộng sản dùng ngay người của chính tôn giáo đó phá hoại uy tín và niềm tin của tín đồ với Giáo Hội mình thì hậu quả tai hại biết là ngần nào. Do đó những người Quốc Gia Dân Chủ chân chính cần phải bình tâm, tĩnh trí đưa cuộc đấu tranh này ra khỏi vòng lẩn quẩn đánh phá lẫn nhau. Tùy hoàn cảnh và vị thế của mỗi tâp thể, mỗi thế lực mà áp dụng những chủ trương, phương pháp, phương tiện đấu tranh riêng. Nhưng nên hiểu tất cả đều cần tương tác với nhau để đẩy mau tiến trình Dân Chủ Hoá Việtnam.

Hiện nay. Tổng Giám Mục Hànội, Ngô Quang Kiệt đã chính thức công khai phát động phong trào Giáo Dân Đòi Công Lý và Sự Thật qua việc đòi đất tòa Khâm Sứ và Thái Hà. Ngài tuy không dùng khẩu hiệu: “Tự Do Tôn Giáo Hay Là Chết” có tính một mất, một còn như Lm Nguyễn Văn Lý, nhưng cũng dứt khoát quyết liệt và tích cực thể hiện: “Tự Do Tôn Giáo Là Quyền chứ không phải là cái ân huệ, xin cho”. Ngài đã bị hệ thống thông tin tuyên truyền của nhà nước Việtcộng xuyên tạc đánh phá dữ dội. Thành phố vội biến 2 khu đất đang tranh chấp thành 2 công viên, nhằm vô hiệu hóa việc tập trung cầu nguyện tranh đấu của Giáo Dân và Tu Sĩ. Hội Đồng Giám Mục Việt Nam nêu quan điểm, kêu gọi chính quyền sửa luật đất đai, cần quan tâm tới quyền Tư Hữu của người dân, và rằng:
“Một giải pháp thỏa đáng chỉ có thể đạt được nhờ đối thoại thẳng thắn, cởi mở và chân thành, trong hòa bình và tôn trọng lẫn nhau”.
Nhưng trong cuộc gặp giữa đại diện Hội Đồng Giám Mục với Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng Việtcộng ở Hànội ngày 01-10-08. Dũng đã nhắc lại lập trường cố hữu của Hànội là: “
Theo pháp luật và Hiến Pháp Việt Nam hiện hành, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý và nhà nước không thừa nhận việc đòi lại”.
Đồng thời Dũng còn kết án nặng nề Tổng Giám Mục Hànội, Ngô Quang Kiệt. Xem thế chủ trương đối thoại của Hội Đồng Giám Mục với Việtcộng đã bế tắc. Muốn buộc Việtcộng phải nghiêm chỉnh đối thoại, thì thế đấu tranh phải mạnh, đề đủ sức đe dọa tới an nguy của chúng.

Mới đây nhất, Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt đã tuyên bố:
“…Tôi không có sợ bất cứ cái gì hết, dù tôi có chết… một cái chết vinh quang”, “…Nếu như mà có bị bắt đi chăng nữa thì đây cũng là hình thức tử vì đạo” “…Chúng tôi rất lấy làm vinh dự nếu được chết như thế” “… chúng tôi sẵn sàng chết cho sự thật” “…Chúng tôi không sợ, vì chúng tôi đang làm công việc không sai” “…chẳng có chút gì lo ngại và lo sợ cả” “…Người ta muốn bắt thì người ta bắt thôi. Mà sự thật vẫn là sự thật…”
Đây mới chỉ là biểu lộ ý chí và tinh thần sẵn sàng “tử vì đạo” cho công lý và sự thật của Ngài. Nhưng Ngài cần phải hành động cụ thể là đến từng nhà để yên ủi những thân nhân giáo dân có người bị bắt. Đến cầu nguyện cùng với các tu sĩ và giáo dân ở 2 công viên, tuy không có ảnh thánh, nhưng trong tâm tư mỗi người, nơi đó vẫn mãi mãi là Linh Địa, là Thánh Địa, nơi quy ngưỡng Tâm Linh Tín Hữu. Mỗi sinh hoạt của Ngài sẽ là tin tức được loan truyền đi khắp nơi, nuôi dưỡng cho cuộc tranh đấu đòi Công Lý và Sự Thật không bị tắt lịm. Có thế mới tạo được thế mạnh cho việc đối thoại của Hội Đồng Giám Mục với nhà cầm quyền Việtcộng. Có như thế mới khơi dậy được phong trào Hải Ngoại bừng lên yềm trợ cho Quốc Nội. Mới có cớ để cho Quốc Tế áp lực Việtcộng phải tôn trọng Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo của toàn dân Việtnam.

Mặc dù phía Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, ở hài ngoại đã hiệp thông với các tôn giáo cùng cầu nguyện cho cuộc đấu tranh đòi đất của Giáo Dân Công Giáo ở Thái Hà và tòa Khâm Sứ Hànội. Tại Hoa Kỳ, Thượng Tọa Thích Viên Lý, tổng thư ký Văn Phòng 2 Viện Hóa Đao đã lên tiếng trên đài truyền hình SBTN tán thán công cuộc tranh đấu của Ngài Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, linh mục, tu sỉ, giáo dân Thái Hà và Hànội. Trên đài Việt Nam Sydney Radio, Hòa Thượng Thích Không Tánh, Tổng Vụ Trưởng Từ Thiện Xã Hội của GHPGVNTN đã ca ngợi tinh thần tranh đấu của bà con Công Giáo cho Công Lý và Sự Thật, cùng dâng lời cầu nguyện cho
tất cả quý linh mục, quý tu sĩ và bà con giáo dân đang bị đàn áp… xin hãy giữ vững tinh thần để cho Công Lý và Sự Thật của mình được sáng tỏ và nhà cầm quyền cộng sản Việtnam phải trả lại những gì mà họ đã chiếm đoạt từ bấy lâu nay”.
Tuy vậy dư luận cũng đã nêu thắc mắc là: Tại sao Hòa Thượng Thích Quảng Độ lãnh đạo GHPGVNTN không chính thức lên tiếng yểm trợ cho cuộc tranh chấp này của người Công Giáo và cuộc đối thoại của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam? Đây là một điểm cực kỳ tế nhị. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất vốn đứng trong thế đấu tranh quyết liệt đòi Tự Do Tôn Giáo, Nhân Quyền và Dân Chủ cho Việtnam một cách không khoan nhượng. Khác với thế đứng công khai hợp pháp của Hội Đồng Giám Mục đang được thừa nhận. Nên không thể chính thức lên tiếng tán thành chủ trương đối thoại với Nhà Nước của HĐGM. Và cũng không phát động phong trào đòi đất lại cho Giáo Hội mình. Vì có đòi thì Việtcộng sẽ chỉ trả lại cho Giáo Hội của nhà nước. Đâu cũng vào đấy! Nhưng ở đây, nên hiểu như một sự thật hiển nhiên là, cuộc tranh đấu Tự Do Dân Chủ Nhân Quyền của GHPGVNTN lại đang ở thế tương tác hữu hiệu cho cuộc đòi hỏi Công Lý và Sự Thật của người Công Giáo. Vì mọi cuộc đấu tranh hiện nay đều phài hướng vào tiến trình Dân Chủ Hóa Chế Độ, do toàn dân mong đợi và thế giới hậu thuẫn mau thành tựu, thì mọi vấn đề mới được giải quyết hợp tình, hợp lý và hợp pháp.

Little Saigon ngày 07-10-2008.

Nếu không có nhận thức TỰ TRỌNG NHÂN PHẨM của mình - TỰ DO DÂN CHỦ của mình - thì cái gọi là "lòng yêu nước, tính dân tộc" chỉ là cảm tính nông nổi và bầy đàn, nếu chưa nói là gian man

Thư Mục